300+ ĐIỀU NÊN BIẾT VỀ PHONG TỤC VIỆT NAM (P1)

300+ ĐIỀU NÊN BIẾT VỀ PHONG TỤC VIỆT NAM
Theo sách VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan Kế Bính (1915) và MỘT TRĂM ĐIỀU NÊN BIẾT VỀ PHONG TỤC VIỆT NAM – Tân Việt (NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 2001), có biên tập và bổ sung

dam_cuoi_chuot

PHẦN 1 PHẦN 2 PHẦN 3
  • Hai tiếng cha mẹ, nước ta mỗi nơi gọi cũng hơi khác nhau: Nơi thì gọi là BốĐẻ, nời thì gọi là ThầyU. Về đường ngược (Hưng hóa) thì gọi mẹ là Bầm, về đường trong thì gọi là Bu. Nam kì thì gọi cha là Tía, mẹ là . Ở đây, bây giờ lại nhiều người cho con gọi cha là Ba, gọi mẹ là Me. Còn các nhà hiếm hoi thì chẳng cứ gì, người thì cho con gọi là Chú, Thím, người thì cho con gọi là Anh, Chị, Cậu, Mợ. Ngày xưa lại có tiếng gọi mẹ là Cái nữa, tiếng ấy thì bây giờ không đâu dùng.

  • Đàn bà có mang ai cũng muốn sinh con trai mà ít người muốn sinh con gái. Hàng xóm bà con nghe thấy sinh con trai thì mừng. Trong khi có mang, váng đầu, đau mình thì gọi là ốm nghén; hay thèm ăn của chua, của chát gọi là ăn dở. Đến lúc sinh sản, mời bà tắm đến đỡ, con xổ ra rồi thì cắt rốn chôn nhau. Chôn phải sâu, nếu chôn nông thì con hay bị trớ, mà phải tránh chỗ giọt gianhkẻo về sau con chốc đầu toét mắt.

    Người mẹ thì phải kiêng khem gió máy, phải nằm than. Ăn cơm thì phải ăn muối hấp hoặc nước mắm chưng, vài ba hôm mới dám ăn đến thịt. Đầy cữ, (con trai 7 ngày, con gái 9 ngày) xông muối xoa nghệ rồi mới dám ra đến ngoài.

    Nhà nghèo nuôi con lấy, nhà giàu nuôi vú cho con. Có người cho vú đem về nhà nuôi. Cho bú độ ba bốn tháng thì cho ăn cơm và vẫn cho bú đến độ ba, bốn tuổi mới thôi.

    Con nhà nào ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chin tháng lò cò chạy chơi, là hợp vào ca thi, dễ nuôi mà mai sau làm nên ngươi.

    Tục ta hỏi thăm nhau đẻ con trai hay là con gái, người có chữ thường nói lộng chương hay lộng ngõa (nghĩa là chơi ngọc hay chơi ngói). Điển ấy do ở Kinh Thi: sinh con trai thì quí hóa mà cho chơi bằng hạt ngọc, sinh con gái thì khinh bỉ mà cho chơi bằng hòn ngói. Lại có người hỏi huyền hổ hay huyền cân (nghĩa là treo cung hay là treo khăn mặt). Điển ấy cũng do tục Tàu: để con trai thì treo cái cung ngoài cửa, mà đẻ con gái thì treo cái khan mặt. Ta dùng điển mà hỏi thăm chứ ta không có cái tục ấy.

  • Trong sách Bắc Hộ Lục có nói rằng Tục Lĩnh Nam nhà giàu đẻ con được ba ngày, hoặc đầy tháng thì tắm cho con, làm một bữa tiệc gọi là đoàn du phạn (nghĩa là bữa cơm tròn trặn trơn tru). Sách Vân đài loại ngữ của ông Lê Quí Đôn thì nói rằng: Tục nước ta đẻ con được ba ngày, làm vài mâm cỗ cúng mụ. Đến hôm đầy tháng, hôm một trăm ngày, hôm đầy tuổi tôi đều có làm cỗ cúng gia tiên, bày tiệc ăn mừng. Bà con, người quen thuộc dùng thơ, câu đối, đồ chơi, đồ quần áo trẻ để mừng nhau. Mà nhất là tiệc một trăm ngày và tiệc đầy tuổi to hơn cả.

  • Trong sách Bắc Hộ Lục có nói rằng Tục Lĩnh Nam nhà giàu đẻ con được ba ngày, hoặc đầy tháng thì tắm cho con, làm một bữa tiệc gọi là đoàn du phạn (nghĩa là bữa cơm tròn trặn trơn tru). Sách Vân đài loại ngữ của ông Lê Quí Đôn thì nói rằng: Tục nước ta đẻ con được ba ngày, làm vài mâm cỗ cúng mụ. Đến hôm đầy tháng, hôm một trăm ngày, hôm đầy tuổi tôi đều có làm cỗ cúng gia tiên, bày tiệc ăn mừng. Bà con, người quen thuộc dùng thơ, câu đối, đồ chơi, đồ quần áo trẻ để mừng nhau. Mà nhất là tiệc một trăm ngày và tiệc đầy tuổi to hơn cả.

    Cứ như tục thành phố Hà Nội bây giờ đẻ con ra đầy cữ, đầy tháng đầy tuổi tôi, mới làm cỗ cúng mụ. Trong lễ cúng thì dùng mười hai đôi hài, mười hai miếng trầu cau, cua ốc, nham, bánh đúc v.v…Vì tin rằng có mười hai bà mụ nặn ra người.

  • Tàu có tục đẻ con đầy một năm thì làm một tiệc thử con. Hôm ấy tắm rửa cho con sạch sẽ, mặc quần áo mới, con trai thì bày đồ cung tên giấy bút, con gái thì bày đồ kim chỉ dao kéo. Lại bày những đồ chơi quí báu ở trườc mặt đứa trẻ để nghiệm xem nó tham liêm ngu trí làm sao, chữ gọi là tiệc thí nhí (thử trẻ). Các nhà đại gia ở ta cũng theo tục ấy, nhưng chỉ bày ít món đồ ấn triện cung tên, bút mực, cày bừa, gọi là trong bốn món văn, vũ, canh, độc để nghiệm đứa trẻ mai sau làm gì thôi.

  • Con nhà nào sinh phải giờ con sát, hay phải giờ kim xà thiết tỏa, sợ mai sau khó nuôi thì cúng đổi giờ. Nhà nào sinh con muộn mằn sợ khó nuôi thì làm lễ bán cửa tĩnh hoặc là bán cửa chùa nào cho con làm con Thánh con Phật gọi là bán khoán. Bán cho cửa tĩnh thì thờ Đức Thánh Trần, bán cho nhà chùa thì đổi họ gọi là họ Mâu, đến mười hai tuổi mới làm lễ chuộc về làm con mình.

    • Đưa con cho người khác bế, không được đưa qua cửa, mai sau sợ con đi ăn cắp ăn trộm. Ẵm con đi đâu phải bôi ít nhọ chảo trên trán hoặc cầm con dao, cái kéo hay là chiếc đũa đi theo, kẻo sợ người ta quở quang.
    • Con hay khóc đêm, gọi là dạ đề thì mượn một người khác lấy cái cọc chuồng lợn ném xuống gầm giường thì khỏi khóc. Có người lạ vào, con khóc mãi không thôi thì lấy một bó lửa ném vào trước mặt người ta thì con thôi khóc.
    • Con ngủ li bì không dậy, lấy vài cái tóc mai của người ngoài phẩy vào miệng đứa trẻ thì khỏi.
    • Con hay trớ, lấy nước lòng đò cho uống thì khỏi.
    • Con nấc, lấy ngọn của lá trầu không dán vào chỗ trán cho nó. Con ngủ giật mình, luộc một cái trứng gà, con trai cắt thành bảy miếng, con gái chin miếng và bảy hay chín nắm cơm, hú vía cho nó rồi cho nó ăn thì nó khỏi sợ.
    • Con đau bụng khóc lắm, mượn người nhổ bão (nhổ cục tóc trên đầu) cho mẹ nó thì khỏi.
    • Con lòi rốn, mượn kẻ ăn mày cầm gậy chọc vào rốn nó thì khỏi.
    • Con chơi phải chỗ cỏ ngứa, nổi mẩn tịt cả mình mẩy gọi là ma tịt, thì ngửa một cái nón mê (nó lá cũ – yahoo), tễ bảy hoặc chím miếng trầu lá lốt cúng ông Cầu bà Quán cho nó thì khỏi.
    • Con lên đậu, ngoài cửa treo một bó vàng và trồng một cây lá ráy vào một cái nồi đất ở trước cửa, hoặc cài một cành kinh giới để giữ cho con được bình yên.
    • Con hắt xì hơi thì nói: Sống lâu tram tuổi, già đầu, thượng thọ để chúc thọ cho con.
    • Con quặt quà quặt quẹo thì bế đứa con đưa qua cái săng người già chết thì nó được sống lâu.
  • Con mới sinh ra thì thường gọi là thằng đỏ con đỏ, ở về nhà quê thì thường gọi là thằng cu con đĩ, ở về vùng quê Thanh Nghệ thì thường gọi là thằng cò con hĩm chứ không mấy người mới sinh ra đã đặt tên. Đặt tên thì nhà thường dân hay bạ tên gì đặt nấy, hay lấy vần hoặc lấy nghĩa gần nhau với tên cha mẹ mà đặt. Ví như cha mẹ tên Lần thì đặt tên là Thần, cha mẹ là Nhăng thì đặt là Nhố, hoặc cha mẹ là Đào thì đặt là Mận, cha mẹ là Sung thì đặt con là Vả v.v. Kẻ hiếm hoi thì thường lấy tên xấu xí mà đặt cho con, như gọi là thằng Cún (con chó cún) thằng Đực (con chó đực) v.v. Nhà có học thì thường kiếm những tên đạp đẽ mà đặt cho con, mà nhất là hay tìm từng bộ chữ Nho. Ví như người dung toàn một bộ chữ Ngọc, như anh là Hoàng thì em là Hành, là Cư, là Vũ, ngừoi thì dung bộ chữ Thủy như anh Giang thì em là Hoài là Tế v.v.

     

  • Nhà nho gia cho con độ năm, sáu tuổi, nhà thường dân cho con độ mười một mười hai tuổi thì cho con đi học. Người biết chữ thì dạy lấy, hoặc mời ông thầy trong làng, lúc mới học thì phải biện lể giầu, rượu, con gà ván xôi để ông thầy làm lễ Thánh sư, rồi dạy vỡ lòng cho con dăm ba chữ hoặc bảy tám chữ, dần dần mới lại kén thầy mà học rộng mãi ra. Con gái thì ít người cho đi học, mà có cho đi học đủ biên sổ sách và biết tính toán mà thôi. Về phần nhà nghèo tì con lên bảy, tám tuổi còn phải ở nhà bồng em, làm đỡ cho cha mẹ, chin mười tuổi đã phải lập nghề làm ăn, không mấy nhà cho đi học.

  • Con độ tuổi mười bốn, mười lăm tuổi trở lên cha mẹ đã đem lòng lo bề gia thất, con trai thì mong dựng vợ, con gái thì mong dả chồng. Xong việc vợ chồng thì lo đến cách lập thân cho con, ngần nào lo phường lo trưởng, lo nhiêu lo xã, cho con bằng mày bằng mặt với làng nước; ngần nào lo sinh cơ lập nghiệp cho con mai sau có chỗ nương nhờ. Nước ta lắm người đẻ nhiều con thì phải lo hết con này đến con khác, có người lo cả đời chưa hết.

    Xét cái tục ta, sinh ra con ai cũng biết thương biết mến, biết chăm chỉ nuôi nấng, dạy dỗ cho con nên người, nưng như nưng trứng, hứng như hứng hoa, thực là hết lòng hết dạ. Loài người cũng nhờ có tính ấy mà bảo tồn được chủng loại cho mỗi ngày được sinh sối nảy nở thêm ra, thì lòng nhân từ ấy rất là hay lắm. Nhưng chỉ hiềm ta khi xưa chưa hiểu cách vệ sinh, trong khi sinh sản, nào nằm than, uống nước tiểu, đấy là một cách làm cho sinh bệnh, không trách đàn bà ta nhiều người sinh ra hâu sản mà ốm mòn. Đến lúc nuôi con thì lại hay tin những điều nhảm nhí, không có bậc triết học nào mà triết hết những sự huyền hão ấy. Cho đi học, không có qui củ cách thức nào, còn phần nhiều thì học năm mười năm thì dốt vẫn hoàn dốt, cho nên trong nước một tram người mới được một hai người biết chữ, cũng chỉ vì cách dạy dỗ không tiên liệu đấy thôi.

    Đến lúc con lớn thì lại lo thay cho con quá. Mà nào lo có ra lo, lo những ngôi thứ trong làng, lo những danh phận vô ích, chứ nào có lo nên một bậc ngừoi gì, hay là thành được một nghề gì đâu. Cái lo lắng ấy, hẳn sinh ra lười biếng, hay ăn chơi. Cho nên lắm người, đời cha mẹ hàn gắn chắt chiu, làm nên giàu có, mà đến đời con thì chỉ ăn chơi chỉ phá chẳng bao lâu mà hết nhẵn như không.

    Cứ như Âu châu, khi sinh sản, các bà đỡ, cô đỡ chuyên môn đến đỡ, có thuốc có thang, ăn uống sạch sẽ.

    Khi còn thơ ấu, nuôi nấng có điều có độ, từ lúc cho bú, lúc nào cho ngủ, lúc cho chơi cũng có thì giờ, thực là hợp với cách vệ sinh. Khi biết học thì cho vào trường học, dạy dỗ có thứ tự, có khuôn phép. Đến lúc khôn lớn, mặc ý cho mà lập thân, không cần gì phải lo lắng thay cho nữa. Bởi vậy, con ít tật bệnh, mà nhiều người thông thái, lại gây cái tính tự lập cho con.

    Ít lâu nay, ta cũng có nhiều người nhiễm theo thói Âu châu, trong cách sinh sản, nuôi nấng, cũng đã đổi bỏ thói cũ, có lẽ về sau cũng theo nhau mà đổi được hết.

  • Anh em cùng cha cùng mẹ đẻ ra gọi là anh em đồng bào, anh em cùng cha khác mẹ gọi là anh em dị bào, nhưng tổng chi gọi là anh em ruột cả, còn anh em cùng mẹ khác cha gọi là anh em đồng mẫu dị phụ, anh em ấy không thân thiết gì mấy, cũng như người ngoài mà thôi.

    Anh em cùng một mẹ đẻ sinh ra, thì cứ theo thứ tự đẻ trước là anh, đẻ sau là em. Nhiều mẹ, thì con vợ cả là anh, con vợ lẽ là em, không cứ gì nhiều tuổi hay ít tuổi. Cũng có nhà lấy vợ hầu trước, dù có đẻ con cũng không được gọi là con cả, khi nào kén được người chính thất, đẻ con mới là con cả, cũng có nhà, bất cứ là vợ nào, hể đẻ trước gọi là anh, đẻ sau gọi là em. Anh em cốt lấy tình thân ái làm đầu, lá lành đùm lá rách, bênh vực giúp đỡ lẫn nhau. Ta vẫn thường cho anh em ăn chung ở lộn với nhau, hòa mục với nhau là cách vui vẻ, là nhà có phúc. Nhưng thường thì anh em phương trưởng, phận ai người đó lo. Nhà phong phú thì cha mẹ lập cho con cơ nghiệp, nhà tầm thường thì ai phải lo thân người ấy, có tư cấp ít nhiều chứ không mấy người ôm ấp đùm bọc lấy nhau được mãi.

  • Người anh cả có quyền hơn cả các người em. Cha mất rồi thì người anh là người thay mặt cho cha mà trông nom các em. Em còn thơ bé thì anh phải nuôi nấng, rồi phải lo dựng vợ gả chồng cho em nữa, gọi là quyền huynh thế phụ. Gia sản cha mẹ để lại, cũng người anh cả hưởng phần lợi hơn, mà công việc trong nhà như ma chay giỗ tết, người anh phải chịu phần nặng

    Nhưng cũng có khi người con út được hưởng phần lợi cha mẹ để lại nhiều hơn các anh. Vì là anh em trước đã yên phận rồi, còn em út ở với cha mẹ, rồi thì thừa hưởng cái cơ nghiệp ấy. Cho nên có câu tục ngữ rằng: “giàu con Út, khó con Út, trút sạch cửa nhà

  • Tục ta có một câu chuyện gọi là chuyện giết chó khuyên chồng: Xưa có một người chồng chơi bời thân thích với một người bạn, nay chè mai chén, ngày kia thuốc phiện, chỉ chơi với bạn mà không biết em là đâu. Người vợ khuyên can mãi chồng mà không được, mới nghĩ ra một kế : một hôm người vợ giết một con chó, cạo lông cho trắng trẻo để trong xó nhà tối. Chồng đi chơi về khuya, vợ nói dối rằng: Hôm nay nhỡ đánh chết một đứa trẻ, để giấu trong buồng, làm thế nào bây giờ? Chồng sợ mất vía, vào xó buồng xem, quả nhiên có một đứa trẻ nằm đó. Chồng bảo gọi em để nhờ em chôn cho. Vợ nói: Xưa nay chàng chơi thân thiết với người bạn, không tưởng đến chú nó, bây giờ có nạn sao nó chịu giúp mình, bất nhược nhờ người anh em bạn còn hơn. Chồng nghe lời, chồng mời bạn đên, nói chuyện đầu đuôi rồi nhờ người bạn chon hộ cho. Người bạn chôn xong, sáng mai lập tức đi báo quan để lập công. Anh ta chỉ dẫn cho quan về tận nơi mà khám. Quan cho đào lên thì là con chó. Hỏi ra thì người vợ thuật chuyện mà nói cái mưu kế của mình cho quan nghe. Chồng từ đó chán người bạn mà thân với em. Câu chuyện tuy tầm thường nhưng cũng làm được cái gương cho anh em.

  • Chị em ở với nhau, cũng có tình thân ái như anh em, có câu rằng “em ngã chị nâng, chị ngã em nâng“, ấy là thường tình của người ta. Còn về phần anh em rể, chị em dâu thì không được thương nhau mấy. Trừ ra nhà có giáo dục, biết lấy lễ nhượng ăn ở với nhau. Còn phần nhiều là hay khủng khỉnh với nhau lắm. Có câu rằng “yêu nhau chị em gái, khái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rể” tục ấy cũng là một tục xấu.

    Anh em, chị em ở nhà lủng củng, gọi là gia đình bất mục. Nhiều người vì một chút lợi gia sản của bố mẹ, đến nỗi xâu xé nhau, đem nhau đi kiện làm cho tán gia bại sản. Thậm chí có nhà cha mẹ chết, quàn ma lại một chỗ để tranh hương hỏa, chờ cho quan xử đoán xong rồi mới cất ma. Tục ấy gọi là đồi phong bại tục, nhà nào suy đốn mới có anh chị em như thế.

    Anh em, chị em là bát máu xẻ đôi, tình tất thân thiết hơn cả người khác. Trong cách ăn ở, phải yêu mến nhau. Mà muốn cho được hòa mục mãi mãi thì lại cốt lấy chữ nhẫn làm đầu, nghĩa là nhường nhịn nhau, dẫu có kẻ ngang trái, cũng nhịn đi, rồi sẽ lấy lời khôn lẽ phải mà khuyên bảo nhau thì không bao giờ đến nỗi khích bác nhau, mặt lăng mày vực với nhau mà trong nhà vẫn vui vẻ, cha mẹ cũng được thỏa đáng.

    Nhưng cũng chớ nên mong nhờ lẫn nhau, mong nhờ nhau là một thói ỷ lại, không biết quí sự tự lập, thì là làm cho hư mất nết người. Đã đành anh em nghĩa nên cứu giúp nhau, nhưng cũng phải nghĩ kế tự lập mới được. Chớ có ăn không ngồi rồi, rượu chè cờ bạc để chắc trông cậy về anh em chị em thì là một tính cách rất đê tiện, làm hại lây cho người có chí mà thôi.

  • Trên cha mẹ thì có ông bà, gọi là tổ phụ mẫu; trên ông bà là cụ, gọi là tằng tổ phụ mẫu; trên cụ là kị, gọi là cao tổ phụ mẫu; còn nữa thì gọi là cao cao tổ, mãi đến thủy tổ là cùng.

    Dưới mình là con, dưới con là cháu, dưới cháu chắt, gọi là tằng tôn. Còn ở dưởi nữa, tổng chi gọi là viễn tôn. Tự cao tổ cho đến viễn tôn, gọi là cửu tộc. Trong cửu tộc chia ra năm bậc để trở (tang), gọi là ngũ phục. Ngũ phục là:

    1. Trở ba năm, gọi là đại tang
    2. Trở một năm, gọi là cơ niên
    3. Trở chin tháng, gọi là đại công
    4. Trở năm tháng, gọi là tiểu công
    5. Trở ba tháng, gọi là ti ma

    Trong ngũ phục, tùy theo tình thân sơ bên nội, bên ngoại mà gia giảm (kể rõ trong các sách gia lễ).

    Anh em trai với cha gọi là bácchú, chữ gọi là bá phụ, thúc phụ. Chị em gái với cha gọi là mẫu. Anh em với mẹ gọi là cậu (cữu). Chị em gái với mẹ gọi là . Anh em con chú, con bác, gọi là tùng huynh đệ. Anh em con cô con cậu hay là đôi con dì, tổng chi gọi là biểu huynh đệ.

    Anh em thúc bá về đàng cha là họ nội. An hem dì cữu về đàng họ mẹ là họ ngoại.

    Tiếng gọi ông bà…ở về Nam Kỳ có tiếng gọi thế cho khi vắng mặt. Như ông gọi là ổng, bà gọi là bả, cậu gọi là cẩu, mợ gọi là mở, thầy gọi là thẩy, cô gọi là cổ, anh gọi là ảnh, chị gọi chỉ. Tiếng ấy có lẽ tiện hơn là gọi ông ấy, bà ấy… Nhưng là tiếng gọi tình sơ chớ không phải tiếng gọi quí trọng.

  • Trong cùng một họ nội không được phép lấy nhau. Nếu lấy nhau thì là loạn luân, luật có phép cấm, mà tục cũng chê cười. Phép này từ ông Châu Công đời nhà Chu (bên Tàu) đặt ra mà tuân giữ rất nghiêm cẩn. Duy về đòi nhà Trần thì trong tôn thất thường có lấy nhau, không biết khi đó nước ta đã có luật cấm chưa, hay là vì cớ gì. Nhưng tiên nho vẫn chê về điều ấy.

    Họ ngoại thì con cô con cậu hay là đôi con dì cũng không được phép lấy nhau. Từ đời cháu trở đi thì được phép lấy. Có câu rằng “Cháu cậu mà lấy cháu cô, thóc lúa đầy bồ, giống má nhà ta“.

    Một người có thể lấy được hai chị em một nhà, hay là hai cô cháu một nhà. Tục này khác với tục Âu châu đã lấy một người thì không được phép lấy chị em cô cháu người ấy nữa. Nếu lấy nhau là loạn luân, coi như lấy người cùng họ của ta.

  • Trong tình thân dưới bậc cha là chú, dưới bậc mẹ thì là dì. Có câu rằng “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì“. Thường ở khắc khe với nhau là mẹ chồng với nàng dâu và dì ghẻ với con chồng. Cho nên mới có câu khuyên nàng dâu “Mẹ chồng già thì mẹ chồng chết, nàng dâu có nết thì nàng dâu chừa” và có câu rằng: “mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng“.

    • Trong thân thuộc là một gia tộc. Góp nhiều gia tộc thành ra một nước, thành ra xã hội. Vậy thì hợp lại mà nói thì là một nước, phân ra mà nói thì là từng gia tộc một. Gia tộc là một đoàn thể nhỏ ở trong đoàn thể lớn vậy. Người ta đối với xã hội có cái nghĩa vụ chung, thì đối gia tộc cũng phải có nghĩa vụ riêng. Nghĩa vụ riêng là gì? Là cách cư xử trong gia đình. Ở trên kính dưới nhường, ở cho trong ấm ngoài êm là đủ. Nghĩa là trong họ hàng chỉ cốt lấy hòa mục làm đầu.
    • Cách dựng gia tộc của ta cũng là một phong tục hay. Vì có nghĩa gia tộc thì người ta mới quí trọng cái thân mình để phụng sự tổ tông và khiến cho người ta phải lo lắng để di truyền cho con cháu. Ai cũng mong cho con cháu khá thì ai cũng gắng làm cho trọn cái nghĩa vụ của mình đem mồ hôi nước mắt ra mà gầy dựng cho kẻ mai sau, rồi thành ra mở núi phá rừng, sinh công nghiệp cũng bởi đó mà ra.
    • Vậy thì do một đoàn thể nhỏ mà gây ra một đoàn thể lớn, do một gia tộc bé mà thành ra một gia tộc to, thực là một cái gốc của xã hội.
    • Nhưng có điều là ta thường cho gia đình được quay quần với nhau là quí thì nghĩa khí hẹp. Người ta phải trọng sự lập thân, dẫu kẻ Nam người Bắc cũng không có hề gì. Nếu quanh năm khư khư bó chân trong nhà, động đi đâu thì sợ xa cha mẹ, xa cửa xa nhà, xa anh xa em, xa vợ xa con thì làm sao cho mở mang được tai mắt mà thêm khôn ngoan ra được. Ta cũng vì tục ấy mà nhiều người kiến thức hẹp hòi, không bằng được người các nước vậy.
    • Thời nay là thời buổi đua ganh, càng đi được nhiều nơi xa thì càng trải biết, càng khôn ngoan. Có khôn ngoan thì mới đứng được với đời. Vậy thì, giá có thể đi đâu được cũng nên đi, chớ không nên quản xa xôi gì hết.
  • Bao nhiêu con cháu trong một dòng họ lập chung một nhà thờ Thủy Tổ gọi là mỗ tộc (Trần tộc, Nguyễn tộc v.v) từ đường. Nhà thờ ấy chỉ thờ riêng một Thủy Tổ và khi tế tự thì lấy các tổ tông biệt chi, biệt phái mà phối hưởng. Có họ không có nhà thờ thì xây một cái bàn lộ thiên, dựng bia đá ghi tên thụy hiệu các tổ tiên để khi tế tự thì ra tại đó mà tế. Có họ thì làm nhà thờ để cho chi trưởng nam đời đời giữ hương hỏa, chi trưởng tuyệt thì mới truyền sang chi thứ. Có họ thì con cháu luân lưu thờ tổ ở nhà mình.

    Những họ về chi khác cũng có nhà thờ tổ tong trong bản chi, gọi là bản chi từ đường.

    Nhà phú quí có gia từ, phụng thờ cao, tằng, tổ, khảo tại chính bàn giữa nhà, còn đôi bên bàn cạnh nhà thì thờ Thổ công, Táo quân, Nghệ sư. nhà thì thờ Bà Cô, Ông Mãnh v.v.

    Nhà thường dân không có nhà thờ riêng thì thờ tại nhà mình ở. Dẫu nghèo cũng có một bàn thờ.

  • Nhà thờ Thủy Tổ có riêng một thần chủ để thờ mãi mãi, không bao giờ thay đổi gọi là ” bách thể bất diêu chi chủ“. Còn về gia từ, nhà phú quí có đủ thần chủ bốn đời, để thờ cao, tằng, tổ, khảo. Thần chủ làm bằng gỗ táo, lấy nghĩa rằng gỗ táo sống lâu được nghìn năm. Dài độ một thước, ở giữa đề tên, họ, chức tước và hai bên thì đề ngày tháng sinh tử của tổ tiên, có hộp vuông che kín và để ở trong long khám, khi nào cúng tế mới mở ra. Hễ đến năm đời thì đem thần chủ của cao tổ đi mà nhắc dần tằng, tổ, khảo lên bực trên rồi đem ông mới nhất mà thế vào thần chủ ông khảo, gọi là “ngũ đại mai thần chủ“. Nhà thường dân cũng có nhà dùng thần chủ, cũng có nhà thì dùng một bộ ỷ để thờ. Đồ thờ phụng thì đại khái nhà nào cũng một bộ đèn nến, lư hương, bình hoa, mâm quí, mâm bồng, cỗ đài, rượu, hộp trầu, nước v.v. Người thì dùng đồ đồng đồ thiếc, người thì dùng đồ sơn son thếp vàng thếp bạc. Nhà nào giàu có treo hoành biển khắc ba bốn chữ đại tự và treo kèm đôi liễn hai bên bàn thờ, hoặc khảm trai hoặc sơn thếp. Nhà không có cũng treo hoành biển và đôi liễn dán giấy. Đại ý trong chữ ghi là ghi tụng công đức tổ tông.

    Đồ thờ phụng, càng nhà giàu thì càng trang hoàng nhiều đồ quí, nhà nghèo đến đâu cũng có được vài cây đèn nến sơn son và một cái bình hương.

    Ta coi đồ thờ tự là đồ rất kính trọng, không ai dám đem cầm đem bán bao giờ. Nếu nhà nào nghèo quá phải cầm bán thì ai cũng chê cười.

  • Nhà thờ nào cũng có cuốn sổ ghi chép theo thứ tự trước sau và họ tên chức tước, ngày tháng năm sinh tử của tổ tông, và người trong nhà gọi là gia phả. Gia phả thường dùng bằng giấy sắc, viết tinh tả, nghĩa là lấy lòng kính trọng mà thờ tổ tiên vậy.

    Nhà đại gia thì gia phả ghi chép cả công nghiệp sự trạng của tổ tông, mả táng tại đâu cũng có ghi vào quyền gia phả, tức như một quyển sử kí trong nhà.

    Gia phả để tại nhà thờ, cũng có nhà in ra phát cho mỗi nhà một bản để cho con cháu được biết sự tích của tổ tông.

     

  • Một họ hoặc một chi đã có nhà thờ, thì có ruộng kị. Ruộng kị ấy là hương hỏa của tổ tiên để lại hay là trong họ chung nhau mà tậu, hay là của người trong họ cũng để lấy hoa lợi mà chi về việc tế tự. Có họ, người con gái đi lấy chồng không có con, cúng tiền cúng ruộng về họ để mai hậu họ nhận ruộng ấy rồi cũng phải thờ phụng người ấy vào trong nhà thờ. Họ nào không có ruộng kị thì mỗi kì cúng tế, phải đóng tiền góp gạo với nhau.

  • Mỗi năm về ngày húy nhật ông Thủy Tổ, cả họ họp mặt tại nhà thờ, dùng lễ tam sinh hoặc tùy vào họ to họ nhỏ mà dung bò hoặc lợn để tế tổ. Tế xong làm cỗ bàn ăn uống vui vẻ với nhau. Mỗ tiết thanh minh thì cả họ rủ nhau đi đắp mả tổ, nhiều họ đắp mả to gần bằng núi. Có họ đăp xong thì tế ngay tại mả tổ, có họ thì đem về nhà.

    Các tuần các tiết cũng có cúng, nhưng chỉ nhà trưởng nam cúng mà thôi. Đến tháng chạp lại có một tuần hợp tế các Tổ trong họ, thì họ hợp đông như khi giỗ tổ.

    Trong ba ngày tết nguyên đán, con cháu trong họ đem trầu cau đến nhà thờ lkễ Tổ. chứ không ăn uống gì cả.

  • Mỗi tuần tiết hoặc ngày kị, hoặc mùa có của mới, gạo mới hoặc khi có việc hiếu hỷ, việc to việc nhỏ, nhà kiệm nhà phong, hoặc dùng bò lợn dê gà, hoặc làm một vài mâm cỗ, hoặc dùng đồ hoa quả bánh trái hoặc thủ lợn mâm xôi, hoặc bát cơm cái trứng, con cá bát canh, tùy thế nào cho tiện thì thôi. Nhưng thế nào cũng có cơi trầu, bát nước trong, một hồ rượu mới là thành lễ. Đốt đèn đốt hương tùy việc mà khấn vái gia tiên.

    Đồ cúng cấp chưa cúng thì dẫu lưng cơm thừa, bát canh dở cũng không ai dám ăn trước, ấy cũng là một lòng rất thành kính vậy.

    • Xét cái tục phụng sự tổ tiên của ta rất là thành kính, ấy cũng là một lòng bất vong bản, cũng là một việc nghĩa vụ của người. Nhưng cũng nên biết rằng sự cúng cấp là để tỏ cái lòng thành kính, chứ không phải để mà phụng dưỡng tổ tiên, thì làm cách nào cho ngụ được cái lòng ấy cũng đủ.
    • Cúng cấp tuy không tốn kém là bao nhiêu nhưng nhiều nhà vì lấy cớ nay giỗ mai tết mà sinh ra khốn khó, hoặc là vì cúng cấp ăn uống mà anh em thường hay khích bác nhau, nào là trách người này một nén hương chẳng mất, nào là chê trưởng nam kiệt, nào là phàn nàn: bao nhiêu nước xáo đổ đầu trưởng nam, thì ra kính lại chẳng bõ phiền.
    • Giá thử dùng cách nào thanh lịch mà đỡ phiền phí thì có lẽ tiện hơn.
  • Ta đọc sách Thánh hiền, lấy sự hiếu với cha mẹ là mối luân thường rất lớn, làm đầu trăm nết hay của người. Mà nhất là ta hay lấy chuyện Nhị thập tứ hiếu làm phương châm cho đạo làm con.

    Hiếu là biết kính trọng thương mến cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ.

    Tục thường cho khi cha mẹ còn không nên đi xa, sợ không được thừa hoan ở dưới gối cha mẹ. Cho nên nhiều người phải bổ đi làm quan xa, hoặc đi làm ăn xa xôi thì thường hay từ rằng ở nhà còn chút cha già hay mẹ già.

  • Nhà nào cha mẹ mạnh khỏe giàu có thì thường ở riêng một mình. Người nào già yếu hoặc không có thì mới ở với con. Con có thì của ngon vật lạ, cơm bưng nước tiến, nhà nghèo cũng biết lưng cơm lành, bát canh ngon để phụng dưỡng cha mẹ. Cũng nhiều người ăn riêng ở riêng cứ tháng đưa tiền cung dưỡng. Hoặc ở xa xôi cách biệt, đôi khi gửi đồng quà tấm bánh về dâng cha mẹ. Nhưng cũng lắm kẻ chỉ biết vợ con, không biết cha mẹ là đâu, cho nên có câu rằng Lúc sống thì chẳng cho ăn, để đến khi chết làm văn tế ruồi.

  • Tục ta coi tên cha mẹ rất kính trọng, hễ đọc đến thì phải kiêng. Ví như tên Kèo thì phải đọc ra thành Cừu, tên Cột thì phải đọc chạnh ra là Kẹt v.v… Nhiều người tên cha mẹ mình lại muốn cho ngừoi ta kiêng nể nữa, cho nên có chữ nhập gia vấn húy (vào đến nhà phải hỏi tên húy để mà kiêng). Lại nhiều người ai mừng hoặc phúng câu đối nhà mình có chữ gì phạm đến tên thì giận mà xé câu đối đi, hoặc bắt người ta phải đổi. Cho nên người cẩn thận, có mừng ai phúng ai câu đối, thường phải hỏi trước chủ nhà để có chữ gì phạm húy thì đổi đi mới dám viết vào vải mà đem đến.

    Nết hiếu vẫn là nết đầu trong luân lý của người ta, nếu cha mẹ là người rất thân mà cư xử đã không ra gì thì ra đến xã hội còn tử tế với ai được nữa.

    Tuy vậy, hiếu với cha mẹ chỉ cốt giữ được lòng kính mến là đủ, tưởng không cần phải giữ lễ phép tỉ mỉ nhỏ nhặt từng tí làm gì. Quí hồ phụng dưỡng đâu vào đấy, đừng để cho cha mẹ phiền lòng. Mình mong cha mẹ vẻ vang thì lại càng phải nghĩ cách lập thân mình. Hoặc học được một khoa gì, hoặc làm được một sự nghiệp gì để có ích cho xã hội, tức là làm thỏa lòng cha mẹ. Mà đừng để tiếng xấu với xã hội, mới là làm cho cha mẹ được vẻ vang.

    Còn cách kiêng tên, tuy là một lòng kính trọng nhưng mà khí hẹp hòi. Tên là một tiếng chỉ riêng người ấy để phân biệt với người khác, dẫu không kiêng cũng chẳng sao, mà có quen theo thói tục, thì tên nhà mình, mình kiêng, hà tất phải ép người ta kiêng thay cho nhà mình

    Với lại, mỗi người một kiêng, mỗi chữ mỗi đọc chạnh thì thành ra chữ này đọc thành chữ nọ, chữ khác đọc ra chữ kia, lâu dần có lẽ lại sai hết tiếng, cách ngôn ngữ không biết thế nào cho cố định được.

    Tôi thấy có người cữ kiêng quá, nghe ai nói chạm đến tên cha mẹ mình thì không bằng lòng. Hoặc nói chuyện với ai, một câu đọc chạnh đến hai, ba tiếng làm cho người ta chẳng hiểu nghĩa lý gì, ngộ quá. Nực cười quá!.

  • Nhà nào có cha mẹ già đến bảy tám mươi tuổi, mà nhà phong phú, đông con cái thì làm lễ mừng thọ cha mẹ, gọi là lễ thượng thọ.

    Hôm ăn mừng, trước hết là làm lễ xôi gà, hoặc tam sinh, hoặc lợn bò, đem ra đình lễ thần, gọi là bái tạ thần hưu, nghĩa là tạ ơn thánh thần đã phù hộ cho cha mẹ được sống lâu.

    Đến lúc lễ, cha, hoặc mẹ ăn mặc lịch sự ngồi ghế đặt chính giũa cho con cái tế tự lễ bái. Con cháu người dâng chén rượu mừng thọ, hoặc dâng quả đào gọi là bàn đào chúc thọ, lấy điển bà Tây Vương Mẫu ngày xưa hiến vua Hán Vũ mấy quả đào tiên, nói rằng ăn quả đào ấy thì được trường thọ.

    Con cháu lễ bái xong, ăn mừng ăn rỡ, mời làng nước khách khứa, có nhà ăn hai ba ngày, có nhà ăn đến năm bảy ngày.

    Khách khứa đem đồ lễ vật đến mừng, cũng như mọi việc ăn mừng khác.

     

  • Tục ta không mấy người ăn mừng sinh nhật, nhưng nhà đại gia cũng có ăn mừng.

    Ngày sinh nhật, con cái làm lễ tế cha mẹ, rồi làm cỗ làm bàn, khoản đãi khách khứa như lễ mừng thọ.

    Mừng thọ và mừng sinh nhật của cha mẹ cũng là một việc để tỏ cái lòng yêu kính cha mẹ là việc rất hay, người không có thì chẳng kể gì, nhưng giàu có thì nên lắm, có lẽ hơn là làm giỗ ngày húy nhật. Ta không mấy nhà theo lễ ấy mà chỉ phù hoa sau khi ca mẹ đã mất rồi, thực là một việc sai lắm.

  • Người nào làm quan từ tam, tứ phẩm trở lên, thì nhà vua ban sắc phong tặng cho cha mẹ, ông bà cụ kị tùy theo phẩm tước của mình: như nhất phẩm thì được phong tặng tam đại, nhị phẩm thì được phong tặng nhị đại, tam tứ phẩm được phong tặng nhất đại.

    Sắc của vua ban đại để kể công trạng chức tước của người làm quan, rồi suy ân ra mà truy phong đến tiền đại. Phong về làng nào, làng ấy phải rước sắc về nhà chủ, rồi nhà chủ chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ cáo gia miếu.

    Trước hết sao bản sắc của vua ra một tờ giấy vàng, cũng như bản sắc chính. Hải bản ấy đựng vào một cái mâm, đặt trên hương án. Trên bàn thờ bày đủ đồ tế tự, người chủ đốt hương vào lễ, rồi tuyên đọc một bài văn kể duyên do tổ khảo được phong tặng và được phong chức. Đoạn rồi tuyên đọc đến bản sắc. Xong rồi đốt bản sao mà để bản nguyên lại thờ cho nên gọi là Thần Hoàng (đốt tờ sắc vàng).

    Tế lễ xong thì khoản đãi khách khứa, cũng như các việc ăn mừng.

    • Xét cái việc phong tặng này, chủ ý triều đình cốt để khuyên người làm con có tài có đức thì tổ tiên cũng được gội nhuần mưa móc triều đình. Vậy thì mình hay bao nhiêu thì cha ông mình được vinh hiển bấy nhiêu, mà nhớ đến công đức cha ông thì lại nhớ đến vua, ơn nước, càng nên hết lòng mà báo đáp ân sâu.
    • Điểm này vừa bồi thực được nhân tài, mà lại duy trì được nhân tâm, thực là một điển rất trọng, tục ăn mừng là phải lắm.
  • Nhà nào có ông già bà cả gần mất, con cái vực đến chỗ chính tẩm, hỏi han xem người trối trăng những gì, rồi đặt tên hiệu cho người biết, dùng nước trầm hương lau sạch sẽ, thay đổi quần áo tươm tất. Khi tắt hơi rồi, lấy chiếc đũa để ngang hàm, bỏ một vốc gạo và 3 đồng tiền vào miệng. Nhà phú quí thì dùng ba miếng vàng sống, chín hạt châu trai, gọi là ngậm hàm.

    Đoạn trải chiếu xuống đất, đưa người xuống một lát (lấy nghĩa người ta bởi đất sinh ra thì khi chết lại về với đất) rồi lại đem lên giường. Người con cầm cái áo của người mới mất thay, trèo lên mái nhà hú vía ba tiếng, có ý con mong cho người sống lại rồi lấy áo phủ lên thây.

  • Nhà giàu dùng vóc liễu, tơ lụa, nhà thường dùng vải trắng, may làm đại liệm, tiểu liệm (đại liệm: một mảnh dọc năm mảnh ngang, tiều liệm: một mảnh dọc ba mảnh ngang) để khâm liệm, rồi thì nhập quan, bỏ vào sàng.

    Tục ta, phần nhiều người tin theo thầy phù thủy, trong quan tài thường có mảnh ván đục hình sao Bắc đẩu tất tinh. Trước khi nhập quan, phải chọn giờ tránh tuổi rồi dùng bùa nọ bùa kia dán ở trong, ngoài quan tài. Có người cho là chết phải giờ xấu thì lại bỏ cỗ bài tổ tôm, hoặc quyển lịch Tàu, hoặc quyển lịch Ta (nhất là quyển lịch có dấu bộ đóng thì càng hay), hoặc tàu lá gồi, để trấn áp ma quỉ. Đâu đấy sơn gắn quan tài cho kỹ càng, đặt chính gian giữa, hoặc nhà còn người sống lớn hơn thì đặt gian cạnh. Nhà nào muốn để lâu một vài tháng thì quàn lại để trong nhà hoặc đem ra vườn phủ cát lên.

    Mấy hôm mới nhập quan, con cháu còn được phép cưới, gọi là cưới chạy tang.

  • Được vài ba hôm, công việc lo liệu đâu đấy thì làm lễ Thành phục. Trước bàn thờ bày linh sàng, linh tọa, đặt hồn bạch (Hồn bạch là lấy lụa đắp vào khi người gần mất, rồi kết lại có đầu, có tay có chân như hình người). Ở ngoài thì bày hương án bàn độc và đồ cúng cấp. Con cháu mặc đồ tang phục, xõa tóc, theo thứ tự đứng sắp hàng ra sàn mà khóc lóc. Nhà phú quí có tế, nhà thường dân hay mượn thầy phù thủy cúng đỡ cho.

  • Con trai, con gái, con dâu đội khan sô, mũ chuối, mặc áo sô, ngoài quàng sợ dây chuối, thắt dây lưng bằng chạc. Cháu nội thì đội mũ mấn, khăn trắng, mặc áo thụng trắng, thân thuộc cũng mặc đồ trắng cả.

  • Tế thành phục rồi thì mỗi ngày buổi sớm, buổi chiều cúng cơm, gọi là chiêu tịch diện. Lễ chiêu tịch diện như thờ khi người còn sống. Buổi sáng con cháu bưng chậu nước, khăn mặt, cau trầu cho vào chỗ giường nằm, khóc ba tiếng rồi rước hồn bạch ra chỗ bàn tọa, mới dâng cúng. Buổi tối dâng cúng xong, lại rước vào chỗ linh sàng, buông màn, đắp chăn rồi mới ra. Lễ ấy, nhà đại gia mới dung, nhà thường thì chỉ cúng ở chỗ linh tọa mà thôi.

  • Trong những đêm ma còn quàn ở nhà, có nhà mỗi tối mời phường bát ẩm gảy đàn thồi sáo và có phường tang nhạc thổi kèn đánh trống. Con cháu, mỗi người thổi một câu khóc ông bà cha mẹ, rồi thưởng tiền cho bọn ấy. Nhà nào không có kèn giải thì không vui

  • Trước hôm cất ma, hoặc ban đêm hoặc buổi sớm, làm lễ chuyển cữu, nghĩa là xoay quan tài. Nguyên lễ, có rước quan tài sang chầu tổ miếu, nhưng nhà chật hẹp không mấy người rước quan tài, chỉ có rước hồn bạch, nhà đại gia thì phong áp mão đại trào rước sang mà thôi. Còn những nhà không có nhà thờ tổ riêng thì chỉ xoay quan tài đi một vòng rồi lại đặt đấy.

    Phát dẫn: Hôm cất ma, gọi là ngày phát dẫn. Hôm ấy con cháu, an hem, người quen biết đều đi đưa cả.

    Cha mất thì các con trai chống gậy tre, mẹ mất thì chống gậy võng, con trai nào mất trước đi rồi thì con trai của người ấy chông gậy thay cha, hoặc nhà nào đi vắng thì treo cái gậy ấy ở đầu đòn đại dư. Nếu không có con trai thì ai vào ăn thừa tự phải chống gậy. Con gái, con dâu thì lăn đường mới là con có hiếu.

    Người thân thích thì một vài người đi gần linh cữu gọi là hộ tang.

    Còn người đi đưa hết thảy gọi là tống tang.

  • Trước hết có hai thần phương tướng làm bằng giấy, hình dung dữ tợn, cầm đồ qua mâu đi dẫn đạo.

    Thứ đến thể kỳ, có hai người khiêng một bức hoành vải trắng đề bốn chữ (ví dụ Cha mất thì đề Hổ sơn vân ám, mẹ mất thì Dĩ linh vạn mê v.v). Đôi bên treo đôi đèn lồng để chức tước húy, hiệu của người mất.

    Thứ đến minh tinh. Minh tinh làm bằng vải lụa hoặc bằng vóc nhiễu đỏ, dài độ 7, 8 thước, lấy phấn trắng đề chức tước, họ tên, thụy hiệu người mất treo vào một cán tre, hoặc làm như hình cái trụ để vào bàn độ cho người khiêng. Đề lòng minh tinh thường tình theo bốn chữ ” Quỉ, Khốc, Linh, Thính” viết dài nắn thế nào mặc lòng, nhưng chữ cuối cùng không được chạm vào chữ Quỉ, chữ Khốc, e chạm phải hai chữ đó thì độc chăng.

    Kế đó đến hương án, bày giá hương, độc bình, đồ tam sự (hai cây nến và một bát hương), mâm ngũ quả.

    Kế đến thực án bày tam sinh, hoặc lợn quay, bánh trái. Rồi đến linh xa rước hồn bạch, có phường tài tử bát âm đi dàn mặt và có đủ đồ binh khí, nào đèn giấy, nào biển đan triệu, đàn ông để hai chữ trung tín, đàn bà để hai chữ trinh tiết. Nào trướng, nào câu đối, liễn của con cháu và của người phúng viếng.

    Kế nữa thì cở công bố, đèn chữ á, nhà đại gia dung đủ đồ nghi trượng sứ thần, có kiệu phong áo ão đại trào, có cờ, có tán, đồ lộ bộ, nến sáp hai dãy, có chiên có trống, có võng có lọng có trống cà rung. Nhà thường thì chỉ có phường kèn trống thổi khúc nam thương mà thôi.

    Sau cùng thì là đại dư rước linh cữu, trên linh cữu che mái nhà táng giấy. Nhà phú quí thì làm mái nhà tang rất hoa mỹ, có cái tốn tới ba bốn chục bạc, có trống tiêu cổ hoặc lệnh dẫn linh cữu đi.

    Con cháu tống tang đi theo linh cữu có bạch mộc (ta thường gọi là phương dụ) để che cho khỏi mưa nắng.

    Ở về các vùng nhà quê, thì chỉ dung mấy thư minh tinh, nhà tang, võng chủ đèn biển sơ sài mà thôi, không mấy nhà trang hoàng như cách phố xá, nhưng lại có các vải cẩm phướn đi dưỡng dực đôi bên, tụng kinh niệm Phật gọi là đi hộ phúc, có nhà Sư ngời xe, bận áo cà sa, tay gõ mõ, miệng tụng kinh để nguyện cầu cho linh hồn được về Tây phương cực lạc thế giới, các người qui Phật mà mất thì các sãi lại đội cầu bát nhã để làm đường cho linh hồn đi sang Tây phương.

    Trong khi đi đường rắc vàng thỏi, vàng giấy, là tục cho rằng có quỉ phụ vào quan tài, rắc vàng để tống quỉ, kẻo quan tài nặng khó đi.

  • Khi đi đường, nhà phú quí có trạm trung đỗ, để đình cữu mà diện tế. Nhà trạm lợp bằng lá hoặc bằng cót, căng vải kết hoa treo đèn, treo biển, bài trí lịch sự. Đến chỗ hạ huyệt lại có một trạm tế hạ huyệt. Lúc tế trạm, tục thường kén mời người nào có chức tước danh giá đề chủ và mượn một người nữa phủng chủ. Lúc tế thì người phủng thần chủ phủng ra đặt lên trên án, người đề chủ cầm bút chấm một nét trên đầu chữ chủ và sổ một nét. Để xong thì nhà chủ phải hậu ta lễ vật cho người đề chủ, có khi bao nhiêu đồ tế tự trong rạp phải biếu cả

     

  • Lúc hạ huyệt có tế thổ thần nơi đất đó. Có ông thầy địa lý phân kim gióng hướng, đợi đến giờ tốt (giờ hoàng đạo) thì hạ huyệt. Ở nhà quê thì các vãi chờ khi lấp đất xong, mỗi người cầm một nắm hương, tụng kinh, niệm Phật đi chung quanh mộ rồi mỗi người cầm một hòn đất ném vào mộ gọi là dong nhan.

    Huyệt thường nhồ thầy địa lý tìm đất trước, nhà đại gia thì làm sẵn sinh phần.

  • Từ lúc ma còn để trong nhà thì con cháu và khách khứa viếng chỉ lạy hai lạy, nghĩa là còn coi như người sống. Đến lúc hạ huyệt rồi thì mới lạy bốn lạy, nghĩa là đến lúc đó thì mới lấy đạo thờ người chết mà thờ.

    Trong lúc đưa ma, con cái lúc nào cũng phải khóc. Khi có khách vào phúng viếng, thường có ô hô ba tiếng (hoặc tình không thân thì lễ không), con trai con rể đều phải khóc mà đáp lễ lại, nhưng chỉ đáp lại một nửa mà thôi, nghĩa là khách lạy hai thì mình đáp một, khách lạy bốn thì mình đáp hai.

  • An tang rồi trở về nhà lại tế, gọi là Ngu tế. Ngày hôm trước gọi là sơ ngu, ngày thứ hai gọi là tái ngu, ngày thứ ba gọi là tam ngu. Ngu nghĩa là yên. Vì người mất nên xương thịt mới chon dưới đất, hồn phách chưa được yên, cho nên tế ba lần để cho yên hồn phách người mất.

    Nhà phú qui mới có Ngu tế, nhà thường thì trong ba ngày chỉ có họ hàng thân thuộc đến phúng viếng mà thôi. Ở nhà quê thì có tư vãn hàng giáp đến trợ tế, ăn uống tốn kém.

  • Trong ba ngày sau khi mới chon, mỗi buổi chiều con cái đem cơi trầu đến chỗ mả khóc lóc gọi là viếng mộ. Tục ta thường để đến hôm ba ngày mới đắp mộ, sửa sang cho tốt đẹp, hoặc làm nhà mộ. Thường dân thì hay mượn thầy phù thủy yểm bùa ở mả, hoặc dùng gà trắng, hoặc dùng chó đen để cúng thổ thần, hoặc dùng lươn, cá chép, ốc, mỏ quạ để yểm bùa, cho rằng làm như thế thì trừ được hung thần kẻo nó quấy phá người mới chết.

    Từ đó trở đi thì ngày nào cũng cúng cơm hai bữa và khóc lóc.

  • Bốn mươi chin ngày gọi là tuần chung thất. Tuần này có tế, có nhà đem vào chùa làm chay, nhờ nhà sư tụng kinh sám hối ba đêm hoặc bảy đêm ngày, để cho vong hồn được siêu thăng tịnh độ.

  • Một trăm ngày là tuần tốt khốc, nghĩa là đến bây giờ mới thôi khóc, tuần này tế lễ một tiệc rồi thì không cúng hai buổi nữa.

  • Được một năm thì giỗ đầu gọi là lễ tiểu tường. Bấy giờ mới trừ bỏ hung phục như đồ sô gai, gậy mũ v.v Nhưng vẫn còn mặc đồ tang chế cho hết ba năm.

  • Hai năm giỗ hết gọi là đại tường

  • Sau đại tường hai tháng chọn một ngày làm lễ trừ phục, gọi là đàm tế. Bấy giờ mới bỏ hết đồ tang phục mà mặc các sắc phục thường.

  • Trong khoảng tiểu, đại tưởng, có hai kỳ đốt mã. Kỳ mã đầu gọi là mã biếu, kỳ mã sau mới thực là mã dâng cho người mất dung. Tục hay đốt về tuần Trung nguyên tháng bảy, cũng nhiều nhà thì đốt vào ngày giỗ đầu và ngày giỗ hết.

    Đồ mã thì làm những đồ thường dung của người, như chăn màn, quần áo, hòm xiểng, mâm bát v.v cho chí thằng quít con nhài, con mèo con chó, có nhà sắm đồ mã tốn đến năm bảy chục, một vài tram bạc.

    Nhà thì đốt mã tại gia, nhà thì đốt mã tại chùa. Có người thì làm chay cúng tam tứ phủ năm bảy ngày.

    Từ khi mới khám liệm cho đến khi đàm tất, mỗi tuần mỗi tiết như ngày thành phục, ngày phát dẫn, trong ba ngày tế ngu cho đến ngày đại tưởng, tiều tưởng, giỗ đầu, giỗ hết, nhà giàu có thì tế bài linh đình, nhà nghèo thì cúng cấp. Tuần tiết nào cũng mời họ mạc, làng nước khách khứa, lại có bánh giầy bánh chưng biếu, người có nhiều, tốn nhiều, nhà có ít tốn ít, có nhà tốn vài nghìn bạc.

    • Sự báo hiếu cho cha mẹ, ai không muốn hết lòng hết sức. Nhưng cứ như tục ta thì phiền vãn quá thể, ăn uống lôi thôi, làm cho nhiều người khổ sở vì tục. Với lại nhiều người khi cha mẹ còn thì bạc thị chẳng ra gì, đến lúc mất lại cúng tế linh đình, kẻ có đã vậy, kẻ không có cũng cố đi vay mượn cầm nhà bán ruộng để trả nợ miệng và lấy thể diện với đời, thật là một sự vô ích quá.
    • Một điều nữa là khi cha mẹ mình mới mất, mặt không dám rửa, ăn cơm không dám xỉa răng, mặc đồ xô gai, dây lưng chạc, dơ dáy bẩn thỉu, chịu làm sao cho được, và người hiếu tử thì chẳng cứ thế mới là thương cha mẹ, kẻ bất hiếu thì dẫu bẩn thỉu, tiều tụy đến đâu, vẫn không có lòng gì nghĩ đến cha mẹ, thì sự ấy chẳng qua cũng là hư vãn mà thôi.
    • Một điều nữa là tục ta đưa ma, con cái khóc lóc sầu thảm quá sức, kể lể con cà con kê, kêu giời kêu đất, nhiều người hết hơi khan tiếng mà vẫn gào. Sự thương cốt ở trong lòng, chỉ ứa hai hàng nước mắt là đủ, mà người thực tình thương có khóc được đâu, thì sự khóc cũng là sự che mắt thế gian mà thôi, lại làm cho váng tai nhức óc người ta khó chịu.
    • Một điều nữa là những nhà hoặc vì có tìm đất hoặc vì có lo liệu công kia việc nọ mà quàn ma trong nhà đến hàng tháng, thì chẳng những là phiền phí hại của, mà có khi tử khí truyền nhiễm lại hại đến cách vệ sinh nữa. Và tử giả dĩ đắc tang vi sinh, để lâu như thế đối với người mất cũng không phải.
    • Còn như lệ làng thì lắm nơi lại hủ quá, sẽ luận ở mục Hương Đảng về sau.
    • Xét như tục tang ma Âu châu, người mất hoặc để tại nhà, hoặc đem đến nhà thờ làm lễ. Hiếu chủ chỉ đưa cái thư báo tang cho người thân tình hoặc người quen thuộc nói rõ ngày giờ nào cất ma. Bà con quen thuộc cứ đúng ngày giờ mà đưa ma, người nào có thân tình thì phúng một vòng hoa hoặc bằng sành, hoặc bằng bột hạt, hoặc vòng hoa thực. Trong khi đưa ma ai nấy im phăng phắc như tờ. Đưa đến huyệt thì các người thân thích đọc bài điếu tang rồi đâu về đấy, hiếu chủ chỉ đón cửa tạ ơn ngưòi đi đưa chứ không mời mọc ăn uống lôi thôi cả ngày.
    • Về sau, cứ ngày lễ tì đem bó hoa đến thăm mả. Tục ấy thanh giản mà tỏ lòng hiếu kính biết dường nào.
    • Tục Nhật bản cũng dùng một cách thanh đạm mà tống táng. Nhưng ai muốn lấy danh giá với đời thì bỏ ra một món tiền, hoặc dăm ba chục, một vài trăm, vài ngàn gửi vào nhà ngân hàng hoặc thương hội nào để giúp vào một việc gì công ích cho xã hội rồi đăng báo cho ai nấy biết rằng người ấy có xuất tiền để làm kỷ niệm cho người chết, thế là danh giá, thế là để cho cha mẹ được vẻ vang.
    • Tuy vậy, mỗi nước có một tục riêng mà tục nước ta thì quen đã lâu, chưa có thể bỏ tục mình mà theo ngay tục khác được. Nhưng tưởng nên nghĩ cách nào cho tiện mà giảm bớt phiền vãn, bỏ bớt sự ăn uống, tì người giàu có đỡ tốn của, để đồng tiền mà dung vào việc công ích, người nghèo khỏi vay công lĩnh nợ, không đến nỗi hết cơ nghiệp về làm ma.
    • Bấy giờ cũng đã nhiều người giảm bớt rồi nhưng cái tục bó buộc, còn nhiều người biết tục dở mà chưa bỏ được.
  • Người mất, sau ba năm đoạn tang rồi hoặc một vài năm nữa thì con cái lo việc cải táng.

    Trước hôm cải táng làm lễ cáo từ đường. Đến hôm táng, lại làm lễ khấn Thổ công chỗ để mả mới táng.

    Trước hết khai mả, nhặt lấy xương xếp vào một cái tiểu sành, rẩy nước vang vào, rồi che đậy thật kín, không cho ánh sáng mặt trời lọt vào được. Nhà phú quí thì dùng quan quách, khám liệm như khi hung tán.

    Đoạn đem cải táng sang đất khác. Còn quan tài cũ nát thì bỏ đi, tốt thì đem về hoặc dùng làm cầu, làm chuồng trâu chuồng ngựa, để trâu ngựa đứng khỏi sâu chân.

    Tục lại tin rằng: hễ ai đau tức thì lấy mảnh ván thỏi (mảnh ván quan tài nát) đốt lên, để dưới gầm giường mà nằm thì khỏi đau tức.

     

    1. Một là vì nhà nghèo, khi cha mẹ mất không tiền lo liệu được, mua tạm một cỗ ván xấu, đợi xong ba năm thì cải táng kẻo sợ ván hư nát thì làm hư hại đến di hài
    2. Hai là chỗ đất mối, kiến, nước lụt thì phải cải táng
    3. Ba là vì chỗ mồ mả chạm phải đường cái, hoặc thành mới mở, bất đắc dĩ phải cải táng
    4. Bốn là vì các nhà địa lý, thấy chỗ mả vô cớ mà sụt đất, hoặc cây cối ở trên mả tự nhiên khô héo, hoặc trong nhà có kẻ dâm loạn điên cuồng, hoặc trong nhà đau ốm lủng củng, hoặc trong nhà có kẻ nghịch ngợm sinh ra kiện tụng lôi thôi thì cho là tại đất mà cải táng
    5. Năm là những người muốn cầu công danh phú quí, nhờ thầy địa lý tìm chỗ đất cát địa mà cải táng. Lại có người thấy nhà khác phát đạt, đem mả nhà mình táng gần chỗ mả nhà người kia để cầu được hưởng dư huệ
  • Trong khi cải tang, tục có ba điều tưởng thụy mà không cải táng:

    1. Một là khi đào đất thấy co con rắn vàng thì cho là long xà khí vật.
    2. Hai là khi mở quan tài ra thấy có dây tơ hồng quấn quanh quít thì cho là đất kết.
    3. Ba là hơi đất chỗ đó ấm áp, trong huyệt khô ráo, hoặc có nước đóng giọt lại như sữa đều là tốt.

    Khi nào gặp như thế thì phải lập tức lấp lại ngay.

    Trước khi hung táng thì đắp hình vuông, đến lúc cải táng thì đắp hình tròn. Nhà phú quí thì xây lăng, nhà thường thì dựng mộ chí, đợi khi tuần tiết đến thăm viếng

    Tục cải tang có người theo, nhưng cũng có người khi hung tang, sắm sửa quan quách kĩ càng, thì không cần gì phải cải tang nữa

    Tục này bởi ta tin cái lý tưởng tổ tiên với con cháu, huyết mạch tương quan với nhau. Hễ hài cốt của tổ tiên có ấm cúng thì con cháu mới mát mặt, hài cốt không yên thì con cháu cũng không yên, cho nên mới có tục ấy.

    Nhiều người tin địa lý quá, mời thầy địa lý phụng dưỡng hai ba tháng trong nhà để đi tìm đất. Có nhà động thấy trong nhà không yên thì lại cải táng, có khi cải tang đến năm, sáu lần.

    Thiết tưởng hài cốt tiên nhân, nếu có lòng kính trọng thương xót, thì chớ có nên di đi dịch lại nhiều lần. Trừ ra những khi vạn bất đắc dĩ thì mới cải đi mà thôi, chớ không nên vì công danh phú quí là việc hy vọng chưa tưởng thấy mà làm đến việc thương tâm thảm mục. Vả lại việc khai mả cũng có khi quan hệ đến việc vệ sinh thì lại là việc không nên làm. Cũng như gia đình hay dở là do ngừoi sống, một khôn một dại khác nhau, chứ có phải tại đất đâu. Nếu có tại đất, cũng không dễ mà tìm được, chẳng qua nhà nào có phúc hậu thì tự nhiên gặp hay, nhà nào bạc ác thì có khi gặp dở, cần gì phải uổng công mệt sức mà đi cầu cái việc vu vơ làm gì.

  • Ngày giổ cụ kị, ông bà, cha mẹ, gọi là ngày kỵ nhật. Chiều hôm trước là cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ. Cái giỗ xa (cụ, kỵ, ông, bà) thì sắm sửa con gà, ván xôi hoặc một vài mâm cỗ, trước cùng gia tiên, sau con cháu sum họp ăn uống với nhau. Còn về ngày giỗ cha mẹ thì tục thường làm phong hơn.

    Trong khi giỗ, dẫu làm lớn nhỏ thế nào thì mặc lòng, nhưng làm sao tất cũng phải có một bát cơm úp vào một quả trứng luộc làm đầu. Cỗ bàn thì tùy nhà giàu nghèo mà phong, kiệm khác nhau. Nhiều nhà mời bà con khách khứa. Bà con khách khứa, người thì mang chè rượu, người thì đem vàng hương đến lễ giỗ rồi mới uống rượu với nhau.

    Nhà hào trưởng trong làng có khi cả làng đến ăn giỗ, nhà ông thầy dạy nhiều học trò thì cả học trò đến ăn giỗ, nhà quan trưởng thì thường cả tổng lý phủ huyện đến ăn giỗ phiền phí lắm.

    Có nơi chiều hôm cúng tiên thường, bà con đã đến chơi đông, uống rượu xong thì giở ra bài bạc, thuốc phiện, lấy tiếng rằng ở lại chầu chực gia tiên mà bày ra cuộc vui vẻ. Sáng hôm sau uống một bữa rượu chính kỵ nữa mới tan.

    • Nhớ kỵ nhật tiền nhân mà cúng cấp cũng là một bụng tốt. Những nguyện ý lúc người mới chế lễ ra, chẳng qua dùng cách ấy để tỏ cái lòng nhớ tổ tiên nhân sinh ra mình, là người gầy dựng nên cơ nghiệp cho mình, là một ý bất vong bản mà thôi, chứ không phải dùng cách ấy để làm sự vui vẻ làm cách giao thiệp với đời. Kỳ thủy ta không phải là không hiểu cái ý ấy, nhưng chắc vì cớ mấy người trước muốn nhân dịp nhà mình có sẵn cỗ bàn cúng cấp mà muốn họp mặt bà con anh em. Hoặc vì bà con anh em vì cùng người gia hạ, nhớ đến ân tình của ông cha mình, hay là vì nể nang mà đến giỗ kỵ, mình có lẽ nào vong tình được mà chẳng khoản đãi. Vì thế thành tục, té ra phần nhớ đến tiền nhân thì ít, mà phần lo về khoản đãi bà con khách khứa thì nhiều.
    • Đã đành rằng có thì mâm cao cỗ đầy, chẳng có thì lưng cơm cái trứng cũng đủ tỏ chút lòng thành, nhưng ngặt vì tục đã quen, không cố là lo được thì người ta chê là bủn xỉn, mà trong lòng mình cũng áy náy không đành.
    • Ngày kỵ nhật là một ngày chung thân chí tang, thì là ngày thương xót, ngày rầu buồn, đáng lẽ chỉ nên đóng cửa mà thương nhớ mới phải. Mà dẫu có theo tục dùng cách cúng tế làm sự kỷ niệm thì làm thế nào cho giản tiện, miễn là tỏ được chút lòng với tổ tiên là đủ, tưởng không nên bày vẽ cho thêm tốn làm gì. Nếu có của mà muốn họp mặt bà con anh em, khoản đãi khách khứa thì tưởng nên dùng vào những dịp ăn mừng thì đúng hơn.
    • Xét như tục Âu châu, nhớ ngày húy nhật, con cái chỉ đem bó hoa ra thăm mả là cùng.
    • Tục Nhật bản: cũng chuộng sự tế tự, nhưng đến ngày húy nhật, con cháu chỉ đem hương hoa dâng cúng mà thôi.
    • Xem như tục các nước văn minh ấy, tuy rằng thanh đạm nhưng thực là đủ tỏ lòng thành kính mà lại giữ được tiền của để dung vào việc đáng dùng.

     

  • Tết Nguyên ĐánMồng một đầu năm là Tết Nguyên Đán. Tết này ăn to hơn cả tết trong một năm.

    Trước nửa tháng Tết, nhà nào nhà ấy đã rộn rịp sắm Tết, nào ngưòi mua tranh mua pháo, nào ngưòi mua vàng hương mã mùng, đường mứt bánh trái v.v.

    Các thầy đồ nhà quê ra chợ viết câu đôi bán. Các người đi buôn bán hoặc đi làm ăn xa xôi, đâu cũng nghỉ việc để về nhà ăn tết.

    Cách Tết một vài hôm, ai nấy dọn dẹp nhà cửa, lau rửa đồ thờ đồ phượng. Câu đối đỏ dán cửa, dán cột sáng choang, treo tranh treo liễn trang hoàng lịch sự.

    Nhiều nhà trước cửa có dán tranh quan tướng, hoặc dán bôn chữ Thần trà uất Lũy. Điển này do ở thường phong tục thông có nói rằng: ở dưới gốc cây đào lớn núi Độ Sóc có hai ông thần, gọi là Thần trà uất Luỹ, cai quản đàn quỷ. Hễ quỷ nào làm hại nhân gian thì thần ấy giết mà ăn thịt. Ta dùng bốn chữ ấy, có ý để cho quỷ sợ mà không dám vào cửa.

    Lại có nhiểu nơi chặt tre dựng cây nêu, kết ba cái lạt ra, buộc một bó vàng. Hoặc lấy cành đa lá dừa cài ngoài cửa ngõ. Hoặc là rắc vôi bột trong sân ngoài ngõ, vẽ bàn cờ cái cung, cái nỏ v.v. cũng là có ý trù quỷ, kẻo sợ năm mới quỷ vào quấy nhà mình.

    Nửa đêm hôm ba mươi rạng ngày mồng một, ở thành phô” nhà nào cũng bày hương án ra giữa sân đế cúng giao thừa. Ở về dân thôn quê thì các xóm tế giao thừa tại nơi điểm sở, trống đánh, pháo đốt ầm ầm. Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông Hành Khiển, coi việc nhân gian: hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn đưa ông cũ mà đón ông mới.

    Sáng mồng một Tết thì làm cỗ cúng Gia Tiên, và cúng cả Thô Công, Táo Quân, Nghệ Sư v.v. cỗ bàn to nhỏ thế nào cũng được, nhưng làm sao cũng phải có bánh chưng, cá kho, giò, chả, dưa hành, thịt bò mới ra cỗ ngày Tết. Có nhà dựng hai cây mía cạnh bàn thờ để làm gậy cho ông vải.

    Hôm ấy ăn nói phải giữ gìn, sợ nói bậy thì giông đi cả năm. Nhiều nhà nhờ một người phúc hậu dễ tính, sáng sớm đến xông đất, để cho cả năm được bán đắt buôn may.

    Quét tước trong nhà phải kiêng không dám hốt rác đổ đi, chỉ vun vào một xó, đợi ba hôm động thổ rồi mới đem đổ. Tục này do ở trong “Sưu thần ký” có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo. Thủy thần cho một con hầu tên là Như Nguyện, đem về nhà được vài năm thì giàu to. Đến sau, một hôm nhân ngày mồng một Tết, đánh nó, nó chui vào đổng rác mà biến mất, từ đây nhà chàng kia lại nghèo đi. Bởi thế ta theo tục Tàu, kiêng không dám hốt rác.

    Cúng gia tiên xong thì con cháu ra mừng tuổi ông bà cha mẹ, lạy hai lạy. Ông bà cha mẹ mừng cho con cháu mỗi đứa một vài xu hoặc một vài hào, gọi là tiền mừng tuổi.

    Anh em, họ hàng, người quen thuộc, đến lẫn nhà nhau lạy gia tiên, chúc mừng cho nhau những câu: thăng quan, tiến tước, sinh năm đẻ bảy, vạn sự như ý, buôn bán phát tài v.v.

    Trong khi anh em đến chơi vối nhau, uống chơi chén rượu sen, rượu cúc, hoặc chén nưốc chè tàu, chè sen, hút điếu thuốc lào, hoặc uống rượu sâm banh, rượu sạc tời, rượu mùi, nhằn vài ba hạt dưa, ăn vài miếng mứt.

    Thành phố Hà Nội, chỗ ngồi chơi thế nào cũng được: một vài củ thủy tiên, một vài chậu cúc hay là vài chậu cam quất.

    Anh em bạn thăm nhau, mỗi người đưa một cánh danh thiếp đỏ, đề mấy chữ tên. Mấy năm nay thì nhiều người dùng cạt-vi-dích (carte visite). Trước kia đi lại lễ bái phiền lắm, nay nghe đã dần dần bỏ rồi.

    Có nhà ăn Tết một hôm, có nhà ăn Tết ba hôm, có nhà ăn đến bảy hôm, nhưng phần nhiều là ăn Tết ba hôm.

    Các nhà con thứ, cha mẹ còn thì đem biếu thức nọ thức kia. Cha mẹ mất rồi thì hôm mồng hai Tết, phải làm cỗ đem đến nhà con trưởng cúng cha mẹ. Người nghèo thì đem giầu cau vàng hương đến lễ cũng được.

    Ngày mồng ba cũng như ngày mồng hai.

    Đến ngày mồng bốn thì hóa vàng. Ngày ấy xấu hay là chạm phải ngày tuổi chủ nhà thì hóa trước sau một ngày cũng được, có nhà để đến mồng bảy mới hóa vàng; gọi là ngày cúng tiễn ông vải. Hôm ấy con cháu họp đông đủ mà ăn uống vui vầy với nhau.

    Trong mấy hôm Tết, ngày nào cũng đốt pháo. Điển đốt pháo do ở “Kinh sở tuế thời kỳ” có nói rằng: Sơn tiêu (ma núi) phạm vào người thì người sinh đau ốm, nó chỉ sợ tiếng pháo, hễ đốt pháo thì nó không dám đến. Nhưng tục ta thì cho tiếng pháo là tiếng vui mừng chớ không có ý để trừ quỷ.

    Đến ngày mồng hai Tết giở đi, người thì chọn ngày xuất hành, người thì hái cành hoa về cài vào cửa, gọi là đi hái lộc. Người làm quan thì chọn ngày khai ân, học trò thì chọn ngày khai bút, nhà buôn bán thì chọn ngày mở cửa hàng, nhà quê thì chọn ngày làm lễ động thổ. Trăm công nghìn việc lại bắt đầu từ đó.

    Suốt một tháng giêng, già trẻ trai gái, kẻ chợ nhà quê, quần điều áo thâm, kẻ thì lễ bái chùa này miếu nọ, người thì du ngoạn cảnh nọ cảnh kia, chỗ thì thi hoa đăng chỗ thì hội hè hát xướng. Các người nhàn, năm ba ngưòi tụ lại đánh bài đánh bạc. Ngoài ngã ba ngã bảy, đám thì quay đất, đám thì lúc lắc thò lò, tổng chi gọi là cách thưởng xuân.

  • Tết Hàn ThựcNgày mồng ba tháng ba là Tết Hàn thực. Hàn thực nghĩa là ăn đồ lạnh. Điển này nguyên ở Tàu: về đời Xuân Thu, vua Văn Công nhà Tấn, còn khi long đong trốn nạn, nay trú nước Tề, mai ngụ nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Có một hôm, vua đi đường thiếu lương đói quá, bọn đầy tớ không thể kiếm lương vào đâu được. Giới Tử Thôi phải cắt thịt đùi mình ra, nấu nướng ngon lành, dưng lên vua xơi, vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám cảnh vô cùng. Theo trong mười chín năm giòi, trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Đến lúc Văn Công lại được giở về làm vua nước Tấn, phong thưởng cho những người có công trong khi tòng vong, nhỡ quên mất công của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đem mẹ vào ở ẩn núi Điền Sơn. Sau vua nhớ ra, sai người vàọ núi tìm không được, Vua sai đốt rừng ấy cho ông phải ra. Nhưng ông cũng không chịu ra, đành hai mẹ con chịu chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ trên núi và phong cả khu rừng đó làm tự điền.

    Hôm ông ấy chết là ngày mồng 5 tháng ba. Người xứ đó thương ông ấy, cứ mỗi năm đến ngày ấy thì cấm đốt lửa ba ngày mà bắt đầu từ hôm mồng ba, chỉ ăn đồ lạnh đã nấu sẵn mà thôi.

    Ta nhiễm theo tục ấy, thành ra ăn Tết hôm mồng ba. Mà ta thì làm bánh trôi bánh chay để thế cho đồ lạnh, nhưng ta chỉ cúng gia tiên, chứ không ai tưởng gì đến Giới Tử Thôi, mà tiếng là hàn thực, nhưng nấu nướng chẳng có kiêng gì.

     

  • Tết Thanh MinhTrong khoảng tháng ba, có một tiết hậu gọi là tiết Thanh Minh. Thanh Minh nghĩa là tròi độ ấy mát mẻ quang đãng. Tục Tàu hôm ấy, giai nhân, tài tử, đua nhau đi tảo mộ, gọi là Hội Đạp Thanh. Ta không ăn Tết ấy, nhưng cũng nhiều người nhân dịp ấy mà đi tảo mộ. Tảo mộ là đi thăm mộ tiền nhân, cỏ rậm thì phát cho quang, đất khuyết thì đắp bồi lên, rồi về nhà cũng làm cỗ cúng gia tiên.

  • Tết Đoan NgọMồng năm tháng năm, gọi là tết Đoan Ngọ, hay là Đoan Dương.

    Tết này ta hay lấy lá móng nhuộm các đầu ngón tay, ngón chân cho trẻ, mà trừ ra ngón tay trỏ và ngón chân trỏ. Sáng sớm hôm ấy, ăn rượu nếp, trứng luộc, kê, bánh đa, đào mận, muỗm, dưa hấu, uống nưóc dừa. Người lớn thì uống rượu hòa ít tam thần đơn, hoặc hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để trừ trùng.

    Nhiều người mua bùa chỉ đeo cho con trẻ. Bùa chỉ kết bằng chỉ ngũ sắc, và lấy những mụn lụa mụn the kết hoa sen, quả đào, quả khế, quả ớt v.v. Lại may áo lụa đem đến các cửa chùa, cửa tĩnh in dấu vẽ bùa rồi mặc cho trẻ, có ý để trừ tà ma cho khỏi quấy.

    Giữa buổi trưa hôm ây thì làm cỗ cúng gia tiên, rồi đi hái lá mồng năm, bất cứ lá gì, bạ gặp lá gì cũng hái, mà nhất là hay hái lá ích mẫu, lá cối xay, lá muỗm, lá vốĩ v.v. Đem về ủ rồi phơi cho khô, về sau đem nâu uống, cho rằng uống thế thì lành.

    Tục hái lá do tự điển Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời nhà Tấn. Hôm mồng năm hai gã vào núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên bỏi thế thành tục.

    Lại nhiều người đi lấy lá ngải cứu, tùy năm nào thì kết hình con thú năm ấy (theo mười hai tiểu hình), như năm Tý thì kết con chuột, năm Sửu thì kết con trâu, năm Dần thì kết con hùm, năm Mão thì kết con mèo v.v. Kết đoạn treo giữa cửa, để trừ sự bất tường, và để về sau ai có bệnh đau bụng, thì dùng làm thuốc tốt lắm.

    Tục này không rõ nguyên ủy từ đâu, có người cho là do từ đời Xuân Thu. Bấy giờ nước sỏ có một vị trung thần tên là Khuất Nguyên, vì can ngăn vua Hoài vương không được, bực mình ôm đá gieo mình xuống sông Mịch La mà tự vận. Hôm ấy chính là ngày mồng năm tháng năm, xứ ấy thương tiếc người trung nghĩa, cứ mỗi năm đến ngày ấy thì làm bánh đường bánh ngọt, cuốn chỉ ngũ sắc ở ngoài rồi đua nhau bơi thuyền ra giữa dòng sông mà ném bánh xuống để cúng ông ấy. Cuộn chỉ ngũ sắc là có ý làm cho cá sợ khỏi đớp mất.

    Vậy Tết ấy là một ngày kỷ niệm ông Khuất Nguyên, mà ta thì thấy người Tàu ăn Tết cũng theo. Nhưng theo thì theo chớ không cúng gì Khuất Nguyên.

  • Tết Trung NguyênRằm tháng bảy gọi là Tết Trung Nguyên. Ta tin theo sách Phật, thường cho hôm ấy là ngày vong nhân xá tội, nghĩa là người dưới âm phủ được tha tội một ngày hôm ấy. Bởi vậy nhiều nhà mua vàng mã cúng gia tiên, các nhà có người mới mất, cũng hay đổt mã làm chay về hôm ấy.

    Tục đốt mã do tự bên Tàu, đời xưa thường dùng đồ ngọc bạch để cúng tế. Đời sau dùng tiền để thế cho ngọc bạch. Đến đòi vua Huyền Tôn nhà Đường, thấy dùng tiền phí lắm, mới truyền cho làm tiền giấy mà thay vào tiền thực. Đến đời Đường Túc Tôn, người Vương Dữ làm quan Tù tế sứ, giữ riêng về việc tế tự dùng toàn bằng tiền giấy để cúng cấp rồi đốt đi. Đòi Ngũ Đại lại chế thêm ra áo giấy, mũ giấy mà cúng cấp quỷ thần.

    Trong sách “Mộng hoa lục” nói rằng: ngày Trung nguyên mua đồ mã, áo mã cúng cấp, dùng cái giường vu lan làm bằng tre, có ba chân, rồi treo tiền của và đồ vàng mã lên trên giường mà đốt. Lục Du lại nói rằng: Tục cứ ngày rằm tháng bảy, làm một mâm cỗ đơn sơ, cúng Thần Tiên chức (thần sinh ra sự dệt cửi) rồi dùng tiền giấy mà đốt.

    Xét ra điều trên này, chắc là tục đốt mã của ta cũng bởi đó mà ra.

  • Tết Trung ThuRằm tháng 8 là Tết Trung Thu. Tết này ta thường gọi là Tết trẻ con, nhưng có nhà tôn phí nhiều lắm.

    Ba ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng nguyệt. Đầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màụ các sắc sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phô’ thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp.

    Đồ trẻ con chơi trong Tết này toàn là các thứ bồi bằng giấy, như là: voi, ngựa, kỳ lân, sư tử, rồng hươu, tôm cá, bươm bưổm, bọ ngựa, cho chí cành hoa, giàn mướp, đèn cù, đèn xẻ rãnh, đình chùa, ông nghè đất, con thiềm thừ .v.v. Có nhà một vụ Tết, bán các đồ ấy được tới một vài trăm bạc. Mưòi năm nay họ lại chế ra đồ chơi bằng sắt tây cũng tranh được mối lợi của trẻ con ít nhiều.

    Trẻ con tối hôm ấy, dắt díu nhau từng đàn từng lũ đám thì nhảy vô, đám thì kéo co, đám thì bắt cái hồ khoan, đám thì rước đèn, rước sư tử, trống, thanh la đánh váng cả đường, tiếng reo hò, tiếng đùa rầm rĩ.

    Lại nơi nọ hát trống quân, nơi kia hát trông quít, tổng chi gọi là cách Trung Thu thưởng nguyệt.

    Tục treo đèn bày cỗ, chắc do ở điển vua Đường Minh Hoàng. Hôm ấy là ngày sinh nhật vua Minh Hoàng, truyền cho thiên hạ đâu đâu cũng treo đèn, bày tiệc ăn mừng, rồi ta cũng theo mà thành tục.

    Tục rước đèn thì do tự đời nhà Tông. Vì tục truyền rằng: trong đòi vua Nhân Tôn, có con cá chép thành yêu, cứ đêm trăng hiện lên là con gái mà đi hại người. Bấy giờ ông Bao Công mới sức cho dân gian làm đèn con cá giông như hình nó mà đem rong chơi ngoài đường để cho nó sợ mà không dám hại người nữa. Lòi ấy huyền hoặc lắm, vị tất đã thật.

    Tục hát trông quân thì do từ đời Nguyễn Huệ bên ta mới bày ra. Nguyên khi ông đem,quân ra Bắc, quân sĩ lắm kẻ nhớ nhà. Ông ấy mới bày ra một cách cho đôi bên giả làm trai gái hát đối đáp với nhau, để cho quân sĩ vui lòng mà đỡ nhớ nhà. Có đánh trống làm nhịp, cho nên gọi là trống quân.

  • Tết Trùng cửuMồng chín tháng chín gọi là Tết trùng cửu. Tết này không mấy nhà ăn, nhưng đôi khi cũng có người ăn theo tục Tàu.

    Nguyên từ đòi nhà Hán, có người Hoàn Cảnh theo học ngưòi Phí Tràng Phòng. Tràng Phòng một bữa bảo Hoàn Cảnh rằng: mồng chín tháng chín nhà anh có nạn to, nên cho người nhà mỗi ngưòi may một cái túi lụa, đựng hoa thù du, buộc trên cánh tay, rồi lên chỗ nào cao mà uổng rượu cúc, thì mối tiêu được nạn ấy. Hoàn cảnh nghe lòi thầy, quả nhiên bữa đó người không việc gì mà gà chó ở nhà thì chết cả. Tàu vì thế cứ đến ngày ấy thì hái hoa thù du, lên cao uống rượu. Ta thỉnh thoảng có ngưòi cao hứng cũng uống rượu cúc, gọi là thưởng tết trùng dương.

  • Tết Trùng thậpMồng mười tháng 10 là tết Trùng thập. Tết ấy phần nhiều là các nhà đồng cốt và nhà thầy thuốc mới ăn thôi. Nhưng về nhà quê cũng nhiều nơi ăn, có nơi ăn to lắm, như ở về vùng phủ Hoài thì làm bánh dày, nấu chè kho, trước cúng thần, cúng gia tiên, rồi đem biếu những ngưòi quen thuộc.

    Các nhà thầy thuốc thì vì thu lễ thu tiền mà ăn Tết một là để cúng cấp, hai là để khoản đãi các đệ tử và các bạn hàng.

    Ở về vùng Thanh Trì thì lại ăn Tết Trùng thập về ngày 31 tháng 10. Đại để nhà quê là vì việc gặt hái đã xong, nhớ đến công tiên nông mà cúng tế, và an ủi cho sự khó nhọc mọi ngày.

    Còn phần nhiều thì cúng gia tiên mà thôi.

  • Tết Táo quânHai mươi ba tháng chạp là Tết Táo quân. Ta thường cho hôm ấy là ngày vua bếp lén chầu trời: Nguyên ở trong đạoLão Tử có nói rằng: ngày hai mươi ba tháng chạp thì Táo quân lên chầu tròi dể tâu việc thiện ác của nhân gian.

    Lại có sách nói rằng: ngày xưa có hai vợ chồng nghèo phải bỏ nhau. Người vợ về sau lấy được ngươi chồng giàu có. Một hôm cúng đốt mã ngoài sân, có một người vào ăn xin, người đàn bà trông thấy là người chồng cũ của mình, động lòng thương cảm, đem cơm gạo tiền bạc ra cho. Ngươi chồng sau biết chuyện, nghi cho vợ. Vợ xấu hổ đâm đầu vào đông lửa mà chết. Người chồng cũ cảm tình ân nghĩa, cũng đâm đầu vào lửa chết theo. Người chồng sau thương vợ, cũng nhảy vào nốt, thế là chết cháy cả ba. Thượng đế thương cho ba người cùng có nghĩa mói phong cho làm vua bếp.

    Ta theo hai điển ấy, cho nên cứ đến ngày ấy, thì mua hai mũ ông, một mũ bà để thờ và mua con cá chép để làm ngựa cho táo quân lên chầu tròi.

    Trừ tịch
    Ba mươi tháng chạp là ngày trừ tịch. Trừ tịch là chiều hôm trừ hết năm cũ mà sang năm mới. Lại một nghĩa là trừ khử ma quỷ. Nguyên tục bên Tàu ngày xưa, cứ về hôm ấy thì dùng một trăm hai mươi đứa trẻ con độ chín, mười tuổi, mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cầm trống, vừa đi đưòng vừa đánh để khử trừ ma quỷ, cho nên gọi là trừ tịch.

    Ta thường không hiểu ngày ấy là một tết riêng, cho là ngày tiên thường hôm nguyên đán. Cho nên cứ hôm ấy thì đem trầu cau đi thỉnh tảo tiên phần, rồi về cúng Tết.

  • Xét về các ngày ăn Tết của ta, phần nhiều là noi theo tục Tàu, nhưng chủ ý thì chỉ nhân ngày tuần tiết mà dâng cúng gia tiên, chớ không có ý gì nhớ đến người Tàu cả.

    Cứ như nước ta khi xưa, quanh năm chí tối làm ăn, mồ hôi nước mắt không có thì giờ nghỉ ngơi. Nhà làm ruộng thì sáng vác cuốc, trưa vác cày, hết mùa cấy đến mùa gặt quanh năm chí tối, chân lấm tay bùn. Người làm thợ thì canh ba chưa nằm, canh năm đã dậy, làm lụng chúi mũi chúi lái, không lúc nào mở mắt ra được. Người đi buôn thì nay ngược mai xuôi, tất ta tất tưởi đê cầu lấy chút lợi cho nên giàu nên có. Người đi học thì nung kinh nấu sử, thức khuya dậy sớm để cầu lấy chút danh phận cho vẻ vang cùng người. Nói tóm lại thì tính An-nam ta rất là cần mẫn, chịu thương chịu khó, mà không có ngày nào là ngày chủ nhật. Vậy nên thỉnh thoảng phải có một ngày nghỉ ngơi ăn chơi cho giải trí. Nhưng chẳng lẽ tự nhiên vô cớ mà nghỉ công nghỉ việc, mà ăn chơi không. Vậy mới nhân tuần này tiết nọ, bày ra cách ăn Tết, trước là đem lòng thành kính, thờ phụng tổ tiên, sau là được một ngày nhàn nhã, cầm chén rượu mà yên úy tinh thần.

    Cứ như chủ ý thì cách ăn tết của ta cũng không hại gì. Nhưng chỉ hiềm ta hay tin những chuyện huyền hoặc của Tàu mà không nghĩ đến nghĩa lý gì cả. Thờ phụng thì cứ việc mà thờ phụng, ăn chơi thì cứ việc mà ăn chơi. Ma quỷ đâu mà lại phải đốt pháo đốt vàng? Sâu bọ nào mà lại giết bằng đào, bằng mận. Lá mồng năm uổng bậy uống bạ, uống không khéo thì hóa ra sinh bệnh, đốt mã, vàng, hương cho nhiều chẳng qua chỉ tổ tốn tiền. Thưởng trăng thu cũng là một cách vui, bầy cỗ thi tài thì khí nhỏ mọn quá. Tiễn vua bếp đã là một chuyện hão huyền, mua cá làm ngựa mới lại nực cười thay!

    Vả lại tục ta ăn Tết, không có ý vị gì là cao xa. Xem như tục Âu châu, trong một năm cũng có Tết nầy Tết nọ, nhưng trừ ra một ngày đầu năm, thì là những ngày kỷ niệm chung của xã hội. Như ngày mưòi bôn Juillet là một ngày mới kéo lại dân quyền, ngày ấy mới đích đáng là ngày ăn Tết. Hoặc ngày sinh nhật của một Giáo tổ, cũng nên kỷ niệm để cho nhớ đến gốc đạo của mình. Vậy thì sự hội hè Tết nhứt của Âu châu là để ghi nhớ lấy sự hay, và làm cho quốc dân phấn khởi tinh thần, chớ không phải một vị ăn chơi mà thôi. Mà ăn thì có .phiền vãn gì đâu, ngày Tết đầu năm chẳng qua anh em đưa cái “carte visite” thăm nhau là cùng, nghỉ một ngày làm việc, cũng như ngày chủ nhật mà thôi.

    Còn ngày kỷ niệm tháng bảy thì treo đèn kéo cò, ăn mừng một vài hôm, rồi lại ai công việc gì chăm công việc ấy, chớ không lôi thôi như ta, ăn chơi đến hàng tháng, vừa tốn tiền lại vừa phí cả thi giờ.

    Ta từ xưa đến giờ, há lại không có một việc gì đáng cho dân ta kỷ niệm chung hay sao? Sao không nhớ lấy mà ăn Tết, mà lại nhớ đến Giới Tử Khôi, Khuất Nguyên bên Tàu? Dẫu chẳng nhớ gì ngưòi Tàu nữa, nhưng theo tục riêng của người ta mà dùng làm ngày cúng gia tiên nhà mình, thì cũng vô vị lắm.

  • Con trai con gái độ mưòi lăm, mười sáu tuổi giở lên, đã là tuần sắp sửa lấy vợ lấy chồng. Hai ba mươi tuổi mới cưới gọi là muộn. Cũng có nhà cưới cho con từ năm mười hai, mười ba tuổi, có nhà ước hôn với nhau từ trong thai.

    Tục vợ chồng cứ hơn kém nhau một hai tuổi là vừa đôi.

     

  • Trước hết kén chọn chỗ nào môn đăng hộ đối, xem đôi tuổi không xung khắc nhau, mối mượn mổĩ lái. Mốĩ lái nói với cha mẹ người con gái bằng lòng gả rồi, nhà trai mới đem cau đem chè đến dạm. Từ đó thì mồng năm ngày Tết hoặc là ngày kỵ nhật nhà gái, người rể phải đưa đồ lễ vật đến mới là trọng thế. Cách ít lâu thì làm lễ ăn hỏi: nhà trai đem cau chè, lợn xôi đến nhà gái lễ gia tiên, có nhà dùng cách giản tiện thì chỉ dùng cau, chè, mứt mà thôi. Ở Quảng Nam thì trong lễ ăn hỏi thường lại thêm một đôi hoa tai vàng nữa.

     

  • Ăn hỏi rồi mới xêu. Xêu thì mùa nào thức ấy, như mùa vải thì Xêu vải, mùa dưa thì xêu dưa v.v.

    Có nơi một năm chỉ xêu bôn mùa. Tháng ba xêu vải, tháng năm xêu dưa hấu, đường, mắm, chim, ngỗng, tháng chín xêu hồng, cốm, gạo mới, chim ngói, tháng chạp thì xêu cam, mứt, bánh côm. Đồ xêu nhà gái lấy một nửa, còn một nửa giả lại nhà trai gọi là đồ lại mặt.

  • Xêu xong một năm hoặc nửa năm thì cưới, cũng có khi phải xêu hai ba năm mới được cưới. Nếu không xêu mà xin cưới thì là thiếu lễ, người ta chê cười, mà nhà gái không mấy người nghe.

  • Trước khi muốn cưới thì đôi bên nhà giai và nhà gái đều quang quẻ cả mới được, nghĩa là người chủ hôn không có tang chế gì. Cưới thì nhà giai viết thư hỏi xem nhà gái ăn những lễ vật thế nào. Nhà gái muốn những thức gì thì viết thư giả lời nhà giai. Nhà giai liệu thế lo được thì mới chọn ngày lành tháng tốt, đính ước ngày cưới với nhà gái. Nếu nhà gái lấy lễ nặng quá thì nhà giai xin bớt đi ít nhiều. Nhà gái không nghe thì có khi lại hoãn việc lại. Mà nhà giai bất đắc dĩ phải lo thì có khi vì thế mà hai bên sui gia sinh ra oán ghét nhau.

    Đồ thách cưới thì đại để: Bao nhiêu lợn gạo, hoặc ăn bò thì thách bò, bao nhiêu chè, bao nhiêu cau, bao nhiêu rượu, vòng, nhẫn, hoa, hột, quần áo, chăn màn, và kèm theo thêm bao nhiêu bạc v.v.

     

  • Trước khi muốn cưới thì đôi bên nhà giai và nhà gái đều quang quẻ cả mới được, nghĩa là người chủ hôn không có tang chế gì. Cưới thì nhà giai viết thư hỏi xem nhà gái ăn những lễ vật thế nào. Nhà gái muốn những thức gì thì viết thư giả lời nhà giai. Nhà giai liệu thế lo được thì mới chọn ngày lành tháng tốt, đính ước ngày cưới với nhà gái. Nếu nhà gái lấy lễ nặng quá thì nhà giai xin bớt đi ít nhiều. Nhà gái không nghe thì có khi lại hoãn việc lại. Mà nhà giai bất đắc dĩ phải lo thì có khi vì thế mà hai bên sui gia sinh ra oán ghét nhau.

    Đồ thách cưới thì đại để: Bao nhiêu lợn gạo, hoặc ăn bò thì thách bò, bao nhiêu chè, bao nhiêu cau, bao nhiêu rượu, vòng, nhẫn, hoa, hột, quần áo, chăn màn, và kèm theo thêm bao nhiêu bạc v.v.

     

  • Bày hương án ra sân, dùng lễ gà, xôi, giầu, rượu, tế tơ hồng, rồi hai vợ chồng đều vào lễ.

    Điển tế tơ hồng do chuyện ngày xưa, bên Tàu có một người tên là Vi Cố, một bữa đi chơi trăng, gặp một ông già đang xe các sợi dây đỏ ở dưới bóng giăng. Hỏi thì ông ấy nói rằng ta là Nguyệt lão coi việc xe duyên cho vợ chồng nhân gian, ta đã buộc sợi dây này vào chân ngưòi nào thì dù thế nào cũng phải lấy nhau. Vì thế ta cho việc vợ chồng là có ông Nguyệt lão định trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi thì phải tạ ơn ông ấy, và cầu ông ấy phù hộ cho ở được trăm năm với nhau.

    Tế tơ hồng rồi thì ngưòi rể vào lạy cha mẹ vợ (tục ấy ngưòi theo lổì văn minh bây giò không chịu). Rồi đợi cho họ hàng ăn uống xong mới về.

    tế tơ hồng

  • Sáng hôm sau thì đưa dâu, nhà trai nhà gái cùng ăn mừng, làm cỗ bàn, mời bà con khách khứa. Bà con khách khứa mừng nhau thì kẻ mừng tiền, người mừng chè, cau hoặc là câu đổi đỏ v.v. Mà thường chỉ mừng bên nhà trai, chớ không mấy nơi mừng bên nhà gái, duy ở thành phố thì có mừng bên nhà gái, nhưng chỉ mừng cho ngưòi con gái hoặc một vài vuông nhiễu điều, hoặc may sẵn thành yếm mà thôi.

    Đưa dâu, nhà gái cũng kén một ông già cầm bó hương đi trưóc, rồi bà con họ hàng dẫn cô dâu đi sau. Đến nhà trai rồi thì một vài bà già dẫn cô dâu vào lạy gia tiên, rồi đưa đi lễ nhà thờ đôi bên bố chồng mẹ chồng. Đoạn trở về mới lạy cha mẹ chồng, hoặc còn ông bà chồng cũng lạy ông bà cha mẹ chồng, mỗi ngưòi mừng cho một vài đồng bạc hoặc một vài chục.

    Họ hàng ăn uống xong thì lấy phần. Phần phải có xôi thịt, bánh trái, giò chả, cau chuôi mới là cỗ cưới.

    Ở thành phố thì thách cưới thường nặng hơn ở nhà quê mà không có lệ đi ăn cưới đêm. Cưới ban ngày xong thì đón dâu về ngay. Trong khi cưới và khi đón dâu, hai ông già cầm hai cái lư hương ngồi xe che lọng xanh đi trước, rồi các kẻ dẫn lễ, nào ngưòi đội mâm cau trùm vải tây đỏ, nào kẻ khiêng chóe rượu, khiêng quả phù trang. Trưóc còn đi bộ, ít nay đám thì đi toàn xe cao su, đám nào khoe sĩ diện thì đi toàn xe song mã.

    Lễ bái cũng như cách nhà quê. Ăn xong cũng có phần, phần có những bánh đường bánh ngọt, lại thêm một cái khăn mặt đỏ để gói phần. Sau lại có bánh dầy bánh chưng chia biếu những ngưòi quen thuộc nữa.

     

  • Trong khi cô dâu đi đường, ăn mặc tốt đẹp e thiên hạ quở quang, phải cài vài cái kim vào choàng áo, đế có ai độc mồm độc miệng, thì đã có kim ấy trấn áp đi. Có nơi lại đặt hỏa lò giữa cửa cho cô dâu bước qua, cũng là ý ấy. Cũng có nơi dâu mới đến cửa, mẹ chồng cầm bình vôi tránh đi một lúc, có nơi dâu mới đến cửa, một ngươi lấy chày cổì giã một lúc, tục ấy thì ngộ quá, không hiểu ý làm sao.

  • Trong khi cưới và lúc đưa dâu, lại có tục đóng cửa, giăng dây. Lúc nhà trai đem lễ cưới đến nhà gái thì bên nhà gái, hoặc trẻ con, hoặc đứa đầy tớ đóng cửa không cho vào. Nhà trai phải cho chúng nó dăm ba hào, một đồng bạc thì chúng nó mối mở cửa.

    Trong lúc đi đường thì những kẻ hèn hạ hoặc lấy sợi chỉ đỏ, hoặc mảnh vải, lụa đỏ giăng ngang giữa đưòng, đám cưối đi đến, phải nói tử tế mà cho chúng nó vài hào, thì chúng nó mới cỏi dây cho đi. Chỗ thì chúng nó bày hương án, chờ đi đến, đốt một bánh pháo ăn mừng, chỗ ấy phải đãi họ một vài đồng mới xuôi. Nếu bủn xỉn mà không cho chúng nó tiền, thì chúng cắt chỉ cắt dây nói bậy nói bạ, chẳng xứng đáng cho việc vui mừng, vì vậy đám nào cũng phải cho.

    Tục giăng dây này đã có lâu. về đòi Huyền Tôn, người Đường Thiệu đã dâng biểu nói rằng: ngày người ta đón dâu, những kẻ hèn hạ thường hay lấy xe ngăn trở đưòng đi đòi cỗ bàn ăn uống. Tục ấy mỗi ngày một thịnh, đến nỗi các đám cưới của nhà Vương công, chúng nó cũng tụ họp đàn lũ, che lấp đường đi, làm cho lôi thôi thì giờ, để đòi tiền của, thành ra tiền giăng dây nặng hơn tiền cưới, xin cấm hết đi mới được, xem vậy thì tức là tục giăng dây của ta bây giờ.

  • Tôi hôm cưới, người chồng lấy trầu trăm (trầu tế tơ hồng), trao một nửa cho vợ, rót một chén rượu, mỗi người uống một nửa, gọi là lễ hợp cẩn. Vợ giải chiếu lạy chồng hai lạy, chồng đáp lại vái một vái. Tục ấy nhà đại gia mới dùng đến, nhà thường thì không mấy người dùng.

     

  • Cưới được ba hôm, đến hôm thứ tư thì hai vợ chồng làm lễ chè xôi đem về nhà vợ lạy gia tiên, gọi là lễ lại mặt, chữ gọi là tứ hỉ.

  • Tục cưới của ta, cũng là noi theo tục Tàu. Tàu có sáu lễ: nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kỳ, thân nghênh.

    Có chữ rằng: “Lục lễ bất trị, trinh nữ bất hành” nghĩa là sáu lễ không đủ, thì người gái trinh không đi. Sáu lễ ấy đại khái như lễ dạm, lễ hỏi, lễ xêu, lễ cưới của ta v.v.

    Xét trong tục cưới xin của ta, có mấy điều trái với cách văn minh nên đổi:

    Một là lấy vợ lấy chồng sớm quá. Tục Âu châu trai, gái đúng tuổi khôn lớn, ít ra cũng mười tám, hai mươi tuổi trở lên mới dựng vợ gả chồng. Ta thì thường cho sự có con cháu sớm là nhà có phúc, cho nên lắm nhà con mới mười bốn, mười lăm tuổi huyết khí chưa được sung túc, đã có vợ có chồng, thậm chí có đứa con gái hỉ mũi chưa sạch đã đi về làm dâu. Vì thế sinh con đẻ cái ra nhiều đứa còm cõi ngang nghiu, gây nên một giống nòi yếu ớt. Vả lại lúc tuổi trẻ, còn đang là tuổi hoc hành, tìm kế lập thân, vậy mà đã vướng víu về đường vợ con, thì còn làm gì được nữa, thành ra lại làm cho hư cả người.

    Hai là trai gái không được tự do phôn phổi.

    Tục Âu châu trai gái phải biết nhau trước, cha mẹ cho tự ý kén chọn, có thuận tình thì cha mẹ mới gả. ơ ta chỉ cứ tùy ý cha mẹ, tìm nơi xứng đáng thì gả dẫu con không bằng lòng cũng nài ép cho phải lấy, mà thường nhiều khi cha mẹ gả bán lẫn cho nhau cũng nên. Vì vậy lắm khi vợ chồng lấy nhau rồi, sinh ra chê bai nhau, oán ghét nhau, không được hòa thuận, đến nỗi lìa nhau, mà dẫu có e sợ danh tiếng, gượng ở với nhau, thì cũng sầu não trong lòng, chẳng những là công việc trong nhà lủng củng chẳng ra gì, mà đường sinh dục cũng không được tốt.

    Ba là tục thách cưới. Vợ chồng lấy nhau là một nghĩa vụ, trai phải có vợ, gái phải có chồng, đôi bên đều có tư ích lẫn cho nhau, chớ không phải lợi riêng cho bên nào cả. Vậy mà ta lắm người coi sự gả chồng cho con như là bán con, trừ ra sự may mặc sắm sửa đã bắt nhà trai phải lo, lại thách đến tiền đến bạc. Lắm người nghiệt quá, không đem đủ tiền không nghe, làm cho sui gia sinh oán ghét nhau cũng vì đó. vả lại chẹt người ta quá, ngưòi ta cũng phải miễn cưỡng đi vay mượn mà lo xong việc, rồi thì cái nợ ấy, có khi con mình vê nhà chồng lại phải nai lưng cố sức ra làm ăn đê trả, thế có phải là mình vụ hư danh hoa hoè một lúc, mà đê khô cho con không?

    Cứ như phép Châu Lễ “Phàm lấy vợ, dẫn lễ cưới, lụa tốt không được quá năm lượng”. Năm lượng nghĩa là mười cuốn lụa. Ông Chu Tử có luận rằng: “Lễ cưới ngày xưa giản dị như thế, đến đời sau tục dân ngoa ngoét, thường thường giảng đến cái lễ của cải đòi tiền đòi bạc. Các nhà hào phẩm, lại muốn trang sức thể diện, đòi vàng lụa cho nhiều, không đủ thì trách móc lẫn nhau, đó là trái với lễ”.

    Thiết tưởng sự trai gái lấy nhau, trước hết phải chờ cho đúng tuối khôn lớn, biết cách lập thân, rồi hãy cho lấy nhau, mà lấy nhau thì phó mặc cho tùy ý kén chọn, cha mẹ không nên nài ép lòng con, trừ ra con không biết đường kén lấy phải kẻ chẳng ra gì thì cũng nên ngăn cấm lại mà thôi. Còn như đôi bên đã tốt duyên phải lứa, đã thuận tình nhau thì không nên quản gì giàu với nghèo, tùy thế mà khu xử, miễn là phải thế thì thôi, chớ nên lấy sĩ diện mà hà cầu khắc trách chi nhau quá.

  • Vợ chồng con nhà sang trọng gọi nhau bằng cậu mợ, thầy thông thầy phán thì gọi nhau bằng thầy cô, nhà thường thì gọi nhau bằng anh chị. Có con rồi thì gọi nhau bằng thầy em, đẻ em, nhà thô tục thì gọi nhau là bố cu mẹ đĩ, có người thì gọi bố nó mẹ nó, có người cả hai vợ chồng gọi lẫn nhau là nhà ta. Ở Quảng Nam thì vợ gọi chồng là anh, chồng gọi vợ là em. Ở Nghệ Tĩnh vợ chồng gọi là gấy nhông.

     

  • Đạo vợ chồng cư xử với nhau, trọng nhất là hai chữ hòa thuận. Tục có câu rằng: “thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn” nghĩa là có hòa thuận với nhau thì việc khó đến đâu, cũng làm nên được. Người chồng lại trọng nhứt là phải giữ nghĩa với vợ, mà vợ thì phải giữ tiết với chồng.

  • Ngưòi vợ trên phải phụng dưỡng cha mẹ chồng, có khi phải nuôi cả chồng; giữa thì giúp chồng lo lắng công kia việc khác, gánh vác giang sơn cho nhà chồng; dưối thì săn sóc nuôi con, thế mới gọi là nội trợ.

     

  • Lại phải đủ tứ đức mới gọi là hiền. Tứ đức là: Phụ dung, phụ công, phụ ngôn, phụ hạnh.

    Phụ dung là dáng người đàn bà, dáng phải chính đính hòa nhã, nhưng cũng phải chải chuốt cho gọn gàng sạch sẽ.

    Phụ công là nghề khéo của ngưòi đàn bà, nghề khéo thì chẳng qua trong việc vá may thêu dệt, và biết buôn bán mà thôi, ai giỏi nữa thì biết đủ các việc cầm kỹ thi họa là cùng.

    Phụ ngôn là lời ăn tiếng nói của người đàn bà, ăn nói phải khoan thai, dịu dàng; đừng câu cẩu mà cũng đừng the thé, quí hồ mềm mỏng cho ai cũng dễ nghe.

    Phụ hạnh là nết na người đàn bà, nết na thì đến trên kính, dưới nhường, ở trong nhà chiều chồng thương con, và lấy nết hiền hậu mà ở với anh em họ hàng nhà chồng. Ra ngoài thì nhu mì chín chắn, không hợm hĩnh mà cũng không cay nghiệt với ai.

    Ấy là tứ đức, có đủ chừng ấy mới là người đáng khen.

  • Đàn bà lại có nghĩa tam tòng nữa. Tam tòng là:

    Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.

    Nghĩa là khi người đàn bà còn ở nhà thì theo cha mẹ, khi đã đi lấy chồng thì theo chồng, khi chồng mất rồi thì theo con.

    Cho nên tục ta đi lấy chồng thì dù hay, dở, sông, chết thế nào cũng là người nhà chồng, chỉ nương nhò về chồng – con, chớ không nương nhờ ai được nữa. Cũng vì nghĩa ấy mà người đàn bà phải hết lòng hết sức lo cho chồng con, tức là lo cho mình.

     

  • Nghĩa vụ của người chồng đối với vợ thì chỉ ở cho đúng đắn, biết thương yêu vợ, biết quý trọng vợ, nhất là có tài trí, khiến cho vợ được nương nhờ sung sướng là hơn cả.

    Thứ nhì là vợ chồng đồng tâm hiệp lực, kẻ lo việc ngoài, người lo việc trong, cho việc gia đình chỉnh đốn đâu ra đấy, mà đừng để khổ sở vất vả riêng cho một mình vợ. Còn người quanh năm chí tốĩ, chỉ trông cậy về vợ thì gọi là người hèn.

  • Tục ta trọng nam khinh nữ, quyền người chồng bao giờ cũng nặng hơn quyền vợ. Một là tiền của. Tiền của, của hai vợ chồng làm ra, hoặc của người chồng hay là do người vợ làm ra, cũng gọi là của chồng cả. Có câu rằng: “Trai tay không chẳng ăn mày vợ, gái trăm vạn củng thể nhờ chồng“.

    Hai là việc giao thiệp. Ta chỉ người đàn ông có quyền giao thiệp với người ngoài, chớ đàn bà thì không được dự gì đến việc nọ việc kia cả. Cho nên từ trong họ, đến ngoài làng, cho đến việc tiếp khách, các việc ứng tiếp với xã hội, cũng không việc gì dự đến đàn bà. Ta vì tục ấy mà đàn bà ít kiến thức, tựa như một phần người vô dụng ở đời.

    Ba là quyền tự do. Ta chỉ người đàn ông được tự do, nghĩa là muổn chơi bời gì thì chơi, muốn đi lại đâu thì đi lại, người vợ không có quyền ngăn cấm được, mà vợ hơi có điều gì trái gia pháp thì chồng có thể chửi được. Chồng có thể lấy năm, bảy vợ, mà vợ chỉ được phép lấy một chồng.

    Có câu rằng: “Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng“. Đây là nói đại khái, chớ quyền gì thì chồng cũng hơn.

  • Đàn bà ở với chồng, bảy điều nên phải đuổi gọi là thất xuất:

    1. Không con;
    2. Dâm dật;
    3. Không thờ cha mẹ chồng;
    4. Lắm điểu:
    5. Trộm cắp;
    6. Ghen tuông;
    7. Có ác tật.

    Đàn bà lấy chồng, trọng nhất là việc nối dõi tông đường, không có con thì chồng phải lấy vợ khác, cho nên phải bỏ. Dâm dật là một nết hư. Không thờ phụng được cha mẹ chồng là bất hiếu. Lắm điều thì chua ngoa khó chịu. Trộm cắp thì là có tính gian phi. Ghen tuông thì mất tính hiền hậu. Có ác tật thì không đương nổi việc nhà, và e truyền nhiễm cho ngưòi trong nhà chồng chăng.

    Các điều ấy cũng khó dung, cho nên phải đuổi.

  • Trong phép có ba điều không được đuổi:

    1. Đàn bà từng để tang 3 năm nhà chồng,
    2. Trước nghèo sau giàu.
    3. Ở nhà chồng thì được mà về nhà mình thì không có chỗ nào nương tựa.

    Đàn bà để tang cha mẹ chồng ba năm là đã giúp chồng trong sự báo hiếu rồi, ấy cũng là có công vổi chồng, nếu bỏ thì chẳng những bạc tình, mà lại là ngưòi bất hiếu với cha mẹ nữa. Trước mới lấy nhau thì nghèo, mà sau rồi mổi giàu có, thì là đường sinh ý cũng có nhờ giúp đỡ mới nên. Nếu bỏ đi thì là ngưòi phụ công. Đàn bà chỉ nhờ chồng con và nhờ cha mẹ được thôi. Nếu cha mẹ ngưòi vợ mất rồi mà đuổi đi thì người ta nương nhờ vào đâu, thế là bất nghĩa, cho nên không đuổi.

    đạo vợ chồng (nhận xét)

    Cái đạo vợ chồng, cũng là một mốĩ cương thường rất hệ trọng trong ngũ luân, ơ với nhau mà biết thương yêu nhau, quí trọng nhau, thì rất là phải đạo lắm. Nhưng tục ta trọng Nam khinh Nữ thì là một tục trái hẳn với cách văn minh.

    Sao vậy? Tạo hóa sinh ra có trai thì phải có gái, có người coi việc ngoài thì phải có người coi việc trong, người cứng gân khỏe thịt thì phải làm việc nặng nề, người yếu chân mềm tay thì đã có việc nhẹ nhàng, chẳng qua cũng là giúp lẫn nhau thì mới được công này việc nọ, chớ thiếu một bề nào cũng không được, vậy thì công việc của đàn bà có kém gì công việc của đàn ông đâu? Vả lại tròi sinh ra ngưòi đàn bà cái màu hoa bóng bẩy kia, có thể vui vẻ cho ta những khi bực dọc; cái giọng oanh thỏ thẻ kia, có thể khuây giải cho ta những lúc buồn rầu. Lúc ruột gan ta nóng nảy bồn chồn nhờ có đôi mắt thu ba làm cho ta được dịu êm mát mẻ, khi tinh thần ta lo nghĩ mỏi mệt, nhờ có hai vừng đào kiểm làm cho ta được khoan khoái thư nhàn. Vậy thì chẳng những là nên thương cái phận người yếu đuôi, mà lại nên kính nên trọng nữa.

    Cho nên cứ lấy đạo công bình mà nói thì đáng lẽ quí đàn bà hơn đàn ông mới phải, chớ nên cậy mình khỏe mạnh mà khinh bỉ đàn bà, mà ức chế đàn bà. Tục ngữ Âu châu có câu rằng: “On ne doit pas battre les femmes même aves des fleurs”, nghĩa là dẫu cái hoa cũng không nên dùng mà đánh đàn bà. Câu ấy gẫm ra có lý thú lắm.

    Tục ta thì phần nhiều áp chế đàn bà quá. Có người coi vợ như kẻ ăn người ở, nào là bắí sửa túi nâng khăn, nào là bắt cơm dâng nước tiến, nào là bê hành bẻ tỏi, nào là bắt nhặt, bắt khoan. Chồng ăn chơi như phá thì không sao, vợ xỉnh ra một chút đã sinh ra ỏm tỏi, chồng chim chuột như quỷ thì chẳng hề gì, vợ động đi đâu một lúc đã sinh ra ngờ vực, ấy là điều trái với đạo công bằng.

    Tục ta buộc cho đàn bà một chữ trinh mới lại nghiệt nữa. Đã đành rằng trinh tiết là một nết rất quí ở Á Đông ta, không có thể sao bỏ được, nhưng chữ trinh với chồng cốt ở trong bụng, chứ giữ gìn từng tí thì tựa như đàn ông quá khắc. Tục Âu châu, vợ chồng thủ tín với nhau thì thôi, ngoài ra dẫu dắt tay nhảy đầm với kẻ khác cũng chẳng sao, dẫu ngồi tiếp chuyện với khách, bắt tay với khách cũng chẳng sao. Ta thì kỹ kiêng quá: nào ngồi nói chuyện với đàn ông cũng kiêng, đụng tay vào đàn ông cũng kiêng, đến cả vợ chồng đi với nhau ở ngoài đưòng cũng kiêng nốt. Sao mà kỹ kiêng quá thế? Mà người đàn bà đã hư, dẫu kiêng thê nào cũng hư, thì kiêng có ích gì đâu. vả lại một bước không dám ra đến ngoài, một người lạ không dám đáp chuyện, thì sao cho rộng kiến văn mà giúp chồng nên việc lớn được? Đàn bà con gái nước ta, ít người tài trí anh hùng như các nước, cũng có lẽ vì câu nệ nghĩa chữ trinh quá nữa.

    Đến như trong tội thất xuất, thì lại có mấy điều lạ lùng! ừ, như tội dâm dật, cứ theo luân lý ta thì không thể nào thứ được. Tội bất hiếu, phạm vào đạo luân thường, tội trộm cắp, phạm phải thói gian phi, các tội ấy thì bỏ đi cũng còn có lẽ phải. Còn như tội không có con, chẳng qua bởi khí huyết, hoặc bởi tại đâu, người đàn bà có làm sao được; lắm điều, ghen tuông, thì là thói thường của đàn bà, có không thể chịu được thì lựa lời uốn nắn dần dần cũng phải được, sao nỡ vì một lỗi nhỏ mà tuyệt tình ân nghĩa? Còn tội có ác tật là một sự bất hạnh của đàn bà, chớ nào ai muốn. Nên phải hết lòng thuốc men cho người ta, nếu chữa không được mà sợ truyền nhiễm thì nên kiếm cách giữ gìn, chớ nỡ nào bỏ người ta cầu vơ cầu vất. Thế mà bỏ đi thì là quá khắc! Tưởng Thánh hiền đòi xưa, chắc có gì một cớ riêng gì nữa chăng?

    Tuy vậy, có tội thất xuất, lại có ba điều bất khả xuất thì lại là một lòng rất trung hậu.

    Nói tóm lại thì đàn ông chớ nên khinh bỉ đàn bà, chớ nên tranh hết quyền đàn bà, và chớ nên dùng cách áp chế mà ngược đãi đàn bà. Song nghĩa vụ của đàn ông đốì với đàn bà thì như thế, mà nghĩa vụ của đàn bà đối với đàn ông thì cũng phải kính trọng chồng, phải một lòng một dạ mà lo công việc nhà chồng, phải giữ gìn cái danh trong sạch để đừng phụ tấm lòng thương yêu của chồng. Chớ nên lấy nê rằng mình là người của chồng đáng quí đáng mến, mà bè nheo làm rầy chồng, hoặc say đắm đường ăn chơi, làm hại của nhà chồng hoặc mắng chó chửi mèo, nói chồng chẳng ra gì, thấy chồng yêu xỏ chân lỗ mũi, lại không trách chồng là phàm phu được.

    Sách có chữ rằng: “phu phụ tương kính như tân” nghĩa là vợ chồng kính trọng nhau như khách. Lại có câu rằng: ”phu phụ hòa nhi hậu gia đạo thành” nghĩa là vợ chồng có hòa thuận thì mới nên gia đạo. Hai câu ấy đủ làm gương cho trong đạo vợ chồng.

    lấy vợ lẽ

    Người giàu có hoặc người hiếm hoi thường có vợ lẽ. Người chịu lấy lẽ là người: một là vì nghèo hèn, hai là vì sa cơ thất thế, ba là vì tham giàu, tham danh giá, bốn là vì tuổi trẻ góa chồng, chưa có con, phải bước đi bước nữa thì mới chịu lấy, chớ con nhà tử tế không mây người chịu.

    Lấy vợ lẽ không mấy người cưới xin như khi lấy vợ cả, chỉ dùng lễ cưới sơ sài, đưa ít tiền bạc và nộp cheo cho làng mà thôi.

    Người phú quý có khi lấy năm, lấy bảy vợ lẽ, mỗi người có riêng một dinh cơ, phận ai người nấy. Người bình thường vì hiếm hoi mà lấy, hoặc là vợ cả lấy cho, hoặc là tự mình lấy, nhưng cũng phải nói cho vợ cả bằng lòng mới được. Có khi vợ cả ghen tuông không cho lấy thì chồng lại lấy giấu mà để ở riêng một nơi.

  • Vợ lẽ đối với chồng thì trọng về sự nâng khăn sửa túi, hoặc người thì trọng về sự kế tự, chớ không có trách nhiệm đảm đang công việc nhà chồng như người vợ cả.

    Khi nào người vợ cả hèn yếu, không cáng đáng nổi công kia việc nọ, thì cũng cậy về vợ lẽ nhiều.

    Vợ lẽ ở vối chồng, cũng nhiều người rất trọng hậu, hết lòng lo cho chồng, biết chiều chuộng chồng, biết phân trách nhiệm cho vợ cả. Có người chỉ cốt lấy chỗ nương nhò, chẳng biết lo lắng cho nhà chồng một tí gì.

  • Vợ lẽ đối với chồng thì trọng về sự nâng khăn sửa túi, hoặc người thì trọng về sự kế tự, chớ không có trách nhiệm đảm đang công việc nhà chồng như người vợ cả.

    Khi nào người vợ cả hèn yếu, không cáng đáng nổi công kia việc nọ, thì cũng cậy về vợ lẽ nhiều.

    Vợ lẽ ở vối chồng, cũng nhiều người rất trọng hậu, hết lòng lo cho chồng, biết chiều chuộng chồng, biết phân trách nhiệm cho vợ cả. Có người chỉ cốt lấy chỗ nương nhờ, chẳng biết lo lắng cho nhà chồng một tí gì.

  • Con chồng gọi vợ lẽ của cha là dì ghẻ nếu mẹ mất rồi, phải nương nhờ dì ghẻ, thì người vợ lẽ ấy có quyền làm kế mẫu, coi được con chồng như con mình, thì con chồng cũng phải coi mình như mẹ đẻ. Nhưng ít được hiền hậu, nhiều người không thương đến con chồng.

     

  • Tục vợ lẽ cũng là một tục trái với cách văn minh đời nay, vì là làm cho loài người mất tự do, mất bình đẳng, thì là trái với đạo công bằng của tạo hóa, tức là không hợp cách văn minh, vả lại vợ cả vợ lẽ, ít người biết lấy cách hòa thuận ở với nhau, còn phần nhiều thường hay ghen tuông nhau.

    Người chồng cũng ít người khéo khu xử, mà cũng rất khó khu xử cho vừa lòng cả đôi bên. Có câu rằng: “Cai trăm quân không khó bằng cai bốn vó đàn bà”. Vì thế trong nhà hay sinh ra lục đục, chồng ở giữa thật là khó nghĩ, bênh vợ cả thì vợ lẽ oán, bênh vực vợ lẽ thì vợ cả giận, thành ra gia đình giảm thất sự vui vẻ. Mà lắm khi người vợ cả ác nghiệt, thì vại dấm chua cũng khá chê thay! Hoặc gặp phải ngưòi vợ lẽ tai ngược thì cũng khó chịu! Cầu lấy lớn ra phận lớn, nhỏ ra phận nhỏ, hồ dễ đã được mấy người.

    Song cứ suy cái tình thế trong phong tục ta thì chưa có thể bỏ được. Ta trọng nhất là việc thừa tự, nếu người vợ cả không có con mà không lấy vợ lẽ thì không nghĩ đến việc thừa tự, tục cho là bất hiếu, vả người nước ta, đàn bà thì nhiều mà lại lắm người nghèo khó vất vả. Có cái tục lấy vợ lẽ cũng giúp được cho nhiều người có chỗ nương nhờ.

    Cứ như thế thì lấy vợ lẽ cũng là phải. Song thiết tưởng có người nên lấy, có người không nên lấy. Ai mà lượng cái sức mình có thể bao dung được vợ lẽ và đàn con của vợ lẽ hãy nên lấy, chớ lấy mà đê cho ngưòi ta khổ sở và để cho đàn con nheo nhóc thì đừng. Ai mà tin cái tài mình có thế giữ được hòa mục trong gia đình hãy lấy, chứ lấy mà nay tiếng này mai tiếng khác, sinh ra tan cửa nát nhà thì đừng. Mà lấy thì phải coi người ta là một ngưòi vợ khác của mình, chớ đừng coi là kẻ sai khiến của nhà mình, đừng đê cho vợ lẽ đê tiện, mà cũng đừng đê cho vợ cả mất lòng.

    Sau nữa là cái đạo vợ lẽ ở với chồng, ở với vợ cả, cũng phải giữ hai chữ kính thuận mới được. Mình đã chẳng may sa cơ thất thế, phận hẩm duyên hôi, thân cát đằng đà phải nương đến bóng tùng quân thì đừng có nên cậy nhan sắc, cậy có con, cậy chồng vêu mà hoành hành với người vợ cả, dẫu ở chung ở riêng mặc lòng’, phải cho trên thuận dưới hòa thì mới vui vẻ.

    Người vợ cả ở với vợ lẽ, nên giữ lấy lượng bao dung chớ đừng giữ thói ghen tuông mà mang tiếng nhỏ nhen làm bia cho miệng cười.

  • Nhà nào hiếm muộn thì cầu tự. cầu tự có nhiều cách: Người thì uống thuốc cho bổ huyết, người thì cho tại đất tuyệt đinh, nhờ thầy địa lý dịch mả, người thì đi lễ bái chùa này miếu nọ để cầu Phật, Thánh độ cho có con.

    Về tháng giêng, tháng hai, vợ chồng thiên hạ thường dắt díu nhau vào lễ chừa Hương Tích (thuộc phủ Mỹ Đức tỉnh Hà Nội) cầu tự. Trong chùa có một hang đá, thạch nhũ mọc lổm chổm hai bên, tục gọi là núi Cô, núi Cậu. Các ngưòi cầu tự đem vàng hương oản lễ đến chùa, rồi thì đem quà bánh đến chỗ hang thạch nhũ ấy, coi hòn nào thích mắt thì xoa tay vào đầu mà khấn: Cậu về ở với vợ chồng nhà tôi nhá. Ai nhiều con trai rồi muôn cầu con gái thì sang dãy núi Cô cũng nói như vậy. Khấn xong lúc trở ra về, ăn thì thêm bát thêm đũa, đi đò thì trả thêm một xuất tiền cho người lái đò, làm như đã có một ngưòi đi theo vậy.

    Nếu về nhà mà sau vợ có mang sinh con thì mỗi năm phải đem con về chùa lễ tạ ơn Phật.

    Có người về lễ đền Kiếp Bạc (đền thờ ông Trần Hưng Đạo, thuộc tỉnh Hải Đương) cầu tự. Hạng ngươi này thì phần nhiều là người sinh con khó nuôi, cho là có tiền oan nghiệp chướng, cho nên đến lễ bái trừ tà thì về sau đẻ con mối nuôi được.’

    Xét cái tục cầu tự của ta, cũng bởi tin sự quỷ thần mà ra. Tục này từ thượng cổ đã có, như vua Đế Cốc cầu tự ồ đền Cao Môi mà sinh ra ông Hậu Tắc, ông Thúc Lương Ngột cầu tự ở núi Ni Sơn mà sinh ra Đức Khổng Tử. Nhưng thiết tưởng toàn là do bụng tin tưởng mà ra, chớ không có lẽ gì cho đích đáng tin được.

    Cứ lấy sự hiển nhiên mà nói thì người không có con hay là đẻ con mà không nuôi được, hoặc là vì người đàn ông hay đàn bà có tật bệnh gì, hoặc là vì đẻ con ra tiên thiên suy nhược khó nuôi, hay là nuôi trái phép vệ sinh thì không nuôi được. Còn như người chỉ sinh con gái mà không sinh con trai, cũng bởi có một lẽ riêng nào đó, quyết không có thần thánh nào chủ trương về việc sinh con đẻ cái gì đâu.

    Có người nói rằng: Sự cầu tự cũng nhiều khi linh nghiệm, xem như các người vợ chồng đã ngoài bốn mươi tuổi chưa có con, đi cầu tự rồi mới có, mà cũng nhiều khi người con ấy làm nên thế này thế khác, nếu không nghiệm thì sao thế được.

    Thiết tưởng sự ấy cũng là sự ngẫu nhiên, dẫu chẳng cầu đâu cũng có. vả lại muôn sự thường hay nên ở lòng người tin tưởng. Cái bụng người ta đã tin mê ở điểu gì thì lại hay cố’ sức làm cho điều ấy phải nghiệm, vậy thì lại có một lẽ chắc được, chớ cũng không phải có chi lạ hết.

    Còn như con hay con dở, bởi ở cách dạy dỗ, con thọ con yểu, bởi ở cách dưỡng sinh, không nên cho là con trời, con Phật mà nhảm quá.

  • Người không có con, thường nuôi con nhà anh em hay là người ngoài làm nghĩa tử. Nghĩa tử ấy cũng như con đẻ ra.

    Cha mẹ nuôi con phải vun trồng dạy dỗ, con nuôi ở với cha mẹ, cũng phải hiếu kính phụng dưỡng, coi như cha mẹ đẻ, mai sau cũng được thừa hưởng gia tài.

    Người phú quý có nhiều con rồi, thường cũng có nuôi nghĩa tử. Nghĩa tử này, một là vì ngưòi nuôi thương kẻ cơ hàn mà nuôi, hai là vì người muốn nương thân vào cửa quyền quý mà tình nguyện làm con nuôi. Những con nuôi ấy có người ở hết lòng trung nghĩa, như Quan Bình ở với Quan Công, có người ở phản trắc bất nhân như Lộc Sơn ồ với Đường Minh Hoàng.

    Nhiều người nuôi con nuôi từ khi đứa trẻ còn thơ bé, hoặc vì cha mẹ nó mất sớm, thấy trẻ mồ côi mà nuôi, hoặc vì cha mẹ nó nghèo khó đem bán, người hiếm hoi thì nuôi cho nó đứng đầu đứng số. Đứa con ấy lớn lên, nhiều khi không nhớ đến bản thân phụ mẫu là đâu. Mà dẫu cò nhớ cũng không có phép coi cha mẹ đẻ trọng hơn cha mẹ nuôi được vì cha sinh không bằng mẹ dưỡng, nếu quên ơn người nuôi thì bất nghĩa.

    Ta trọng nhất là việc kế tự, nếu không có người kế tự cho mình, thì mình tức là người bất hiếu với tổ phụ. Cho nên không có con, thì phải nuôi, chủ ý là để mai sau có người giữ hương hỏa cho nhà mình.

    Cái bổn tâm đối với tổ tiên như thế thì cũng phải, nhưng xét cho kỹ thì cũng có điều nên bàn: Giả thử người bất hạnh mà không có con, nuôi được con anh em hoặc con nuôi đồng họ, để mà nối dõi tông đường, thì dẫu là con nuôi, nhưng cũng là huyết mạch, trong một nhà, chẳng hại gì. Còn những người nuôi con người ngoài, mà thường lại yêu thương quý trọng hơn con anh em, thì tưởng cũng là không phải.

    Về phần người con nuôi, người ta đã có công nuôi dạy dỗ mình như con, thì mình cũng phải nên mong mà đền báo cái ơn ấy, chớ đừng nên nghĩ người ta không phải là người sinh ra mình, mà ăn ở phụ bạc.

    Còn như những người thấy người ta có quyền thế mà hạ cái mình quý báu để xin vào làm con nuôi người ta thì là một thói du mị nịnh đời, để cầu lấy các sự ước ao của mình, ấy là một cách rất đê tiện.

  • Mỗi làng phụng sự một vị Thần Hoàng, có làng thò hai ba vị, có làng thờ năm, bảy vị tục gọi là Phúc thần. Phúc thần chia làm ba hạng:

    Thượng đẳng thần.

    Trung đẳng thần.

    Hạ đẳng thần.

    Thượng đẳng thần là những thần Danh Sơn Đại Xuyên, và các bậc Thiên thần như Đông Thiên Vương Sóc Thiên Vương, sử Đồng Tử, Liễu Hạnh v.v.

    Các vị ấy có sự tích linh dị, mằ không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi là Thiên thần. Hai là các vị Nhân thần như là Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, v.v. Các vị này khi sanh tiền có đại công lao với dân với nước, lúc mất đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ.

    Các bực ấy đều có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tự bao phong làm Thượng đẳng thần.

    Trung đẳng thần là những vị thần dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng, hoặc có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc những thần có chút linh dị, tới khi nhà vua sai kỳ tình đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng liệt vào tự điên, mà phong làm Trung đẳng thần.

    Hạ đẳng thần dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưng cũng thuộc về bực chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần. Ngoài ba bực thần ấy, còn nhiều nơi thờ bậy thờ bạ, nơi thì thờ thần bán lợn, nơi thì thờ thần trẻ con, và thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần tà dâm, thần rắn, thần rết v.v. Các hạng ấy gọi là tà thần, yêu thần, đê tiện thần vì dân ngu xuẩn tin bậy mà thờ chớ không được vào tự điển không có phong tặng gì.

  • Mỗi làng thờ thần phải có một tòa miếu. Có nơi thì vừa có miếu vừa có đình. Làng nào to thì mỗi thôn lại có lập riêng một đình.

    Miếu là chỗ quỷ thần bằng y, đình là nơi thờ vọng, và để làm nơi công sở cho dân hội họp. Miếu thường hay kén những nơi đất thắng cảnh, nhất là trên gò cao, hoặc ở nơi gần hồ to sông lớn thì mới hay. Đình thì tùy chỗ nào trung độ, tiện cho dân lành hội họp thì thôi. Đình và miếu rất thường triồng nhiều cây cốĩ cho sầm uất, nơi nào lắm cổ thụ, tức là nơi thắng cảnh và là đình miếu rất lâu đời.

    Đình miếu cũng theo một kiểu mẫu chỉ khác nhau to với nhỏ mà thôi. Đại để đình miếu nào cũng có một nội điện là chỗ rất thâm nghiêm, để an phụng thần vị. Ở ngoài thì nhà đại bái, chia làm ba khoảng: khoảng giữa gọi là trung đình, để làm nơi tế tự, và các người có ngôi thứ cao mới được ngồi. Hai bên gọi là tả gian, hữu gian, ở trong có bàn thờ thổ công, hoặc thờ bộ hạ của thần, hoặc thờ hậu thần, ở ngoài thì làm chỗ cho tư văn, hàng giáp ngồi giải lao.

    Đình nhiều nơi làm rộng rãi đến năm bảy gian, tám chín gian, cột to tới hai người ôm. Các dân xã lớn, đình miếu nguy nga, cột sơn son vẽ rồng, rui hoành trổ chạm sơn thếp, hoành biển, cửa võng rực rỡ trang hoàng.

    Phía ngoài nhà đại bái có hai bàn Tả mạc, hữu mạc, tục gọi là hai dãy muống, để làm chỗ quan viên áo mũ vào tế và để khi có việc to thì lấy chỗ ngồi.

    Ngoài cùng có cửa tam quan, làm cách tôn nghiêm rộng rãi, tường hoa cột trụ, xây đắp chung quanh. Hai bên vách tường, nhiều nơi đắp con rồng con cọp, hoặc vẽ hình đôi võ tướng cầm long đao, hoặc vẽ voi, vẽ ngựa, hoặc làm voi đá đứng đối bên, trên đầu cột trụ thì xây đắp con sấu sành.

  • Mỗi vị thần có một bài vị an phụng vào một bộ long ngai, hoặc an phụng ở trong long khám. Bình nhật để khi có việc hội hè thì phong áo mũ đai mãng đại trào để thò hoặc để rước. Vị thần nào có sắc phong thì dùng các chữ mỹ tự trong lòng sắp làm duệ hiệu của thần. Phải có hòm sắc để chứa sắc, có kim sách để ghi chép sự tích của thần. Còn đồ thờ như đồ tam sự, ngủ sự, đài rượu, quả trầu thì cũng đồ thờ tư gia. Ngoại giả thì đại để các đồ nghi trượng, loan giá, lộ bộ như long kiệu, long đình, cờ quạt, tàn tán, bát bỉu, gươm trường, biển tĩnh túc, biển hồi ty, tay văn, tay võ, dùi đồng phủ việt, chiêng trông v.v.

    Có nơi làm đôi hạc gỗ đứng chầu đôi bên cửa điện.

    Có nơi làm đôi ngựa gỗ hoặc hai con voi rút bằng mây để thờ.

  • Mỗi làng phải để riêng mấy mẫu ruộng làm tự điền. Hoặc có hồ có đầm riêng của làng thì để làm tự trạch mỗi năm lấy hoa lợi, ngư lợi ở đó ra mà cúng vào việc tế tự. Làng nào không có tự điển, tự trạch thì lấy vào khoản công nho nào hoặc phải đóng góp với nhau.

  • Mỗi đình miếu làng cắt một ngưòi thủ từ. Người thủ từ ấy phải ngày đêm ở luôn chốn đình miếu, coi việc đèn hương, giữ đồ phúng tự và coi việc sai tảo cho được sạch sẽ. Nhiều nơi bắt ngưòi thủ từ phải chay sạch, không được ở gần đàn bà. Cũng có nơi thì cho ngưòi thủ từ đem cả vợ con đến ở gian ngoài, trông nom trồng trọt những đất chung quanh mà kiếm ăn.

    Người thủ từ được hưỏng hoa lợi ở chỗ đình miếu và được phép miễn trừ SƯU thuế tạp dịch. Nơi nào lắm linh tích, thiên hạ khách khứa đến lễ bái đông, thì ngươi thủ từ lại được hưởng nhiều lộc thánh.

  • Xét về cái tục thờ Thần Hoàng này từ đời Tam quốc trở về vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầu đảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi. Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tướng, mới bắt đầu lập miếu. Thần Hoàng ở Thành Đô, kế đến nhà Tổng, nhà Minh thiên hạ đâu đâu cũng có lập miếu thờ.

    Nước ta thuở bấy giờ đang lúc nội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này, kế đến Đinh, Lê thì việc thờ quỷ thần đã thịnh hành rồi.

    Nhưng cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn, đại xuyên, triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên ấy đê làm chủ tể cho việc ấm tí một phương mà thôi. Kế sau triều đình tinh biểu những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở gần đâu thờ đấy. Từ đó dân gian lần lần bắt chước nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tể trong làng mình. Làng nào có sẵn người anh hùng hào kiệt mất đi rồi thì thờ ngay người ấy, làng nào không có thì đi cầu lấy một vị thần linh khác rước về nhà thờ. Hoặc nơi thì nhân việc mộng mị, việc bói khoa, việc tá khấu, tin là một sự linh dị mà thờ. Hoặc nơi thì vì một sự ngẫu nhiên, cho là thiêng liêng mà xin duệ hiệu để thờ. Té ra làng nào cũng có đền, xã nào cũng có miếu. Đến cả những xã mới lập, trước hết cũng nghĩ ngay đến việc thò thần.

    Tổng chi là dân ta tin rằng: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, cảnh thổ nào phải có Thần Hoàng ấy, vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc sự thần một thịnh.

    Quỷ thần là việc u minh huyền viễn, cũng chưa dám chắc thế nào mà nói được. Nnưng xét hai chữ quỷ thần của Thánh hiền đặt ra, thần là gì? Thần nghĩa là thần diệu, quỷ là gì? Quỷ nghĩa là quỷ tàng. Chỉ là nói cái lẽ tạo hóa huyền diệu, lúc đương không tự nhiên hóa có, thế là khéo, cho nên gọi là thần khi đang có tự nhiên hóa không, thế là về, cho nên gọi là quỷ. Vậy thì nói cái lẽ như thế mà thôi, chớ không phải có quỷ thần thực. Và thánh nhân có dạy rằng: “Vị tri sinh, yên trì tả. Vị tri sự nhân, yên tri sự quỷ” nghĩa là sự sống còn chưa biết hết, đã biết thế nào được sự chết, việc ăn ở với người còn chưa xong, đã biết thế nào mà thờ quỷ thần. Cứ như lời ấy thì ý thánh nhân cũng không muốn cho người ta nói đến việc quỷ thần. Ngài nói rằng: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” nghĩa là quỷ thần vẫn kính nhưng phải xa đi mới được. Lời ấy thì lại có ý khuyên người ta không nên thờ nhảm.

    Vả lại muôn sự ở đời, do ở sức người làm ra mới gọi là tài trí, nếu cứ cậy về quỷ thần thì sức người chẳng hóa ra hèn đốn lắm ru?

    Xem như các nước Ầu châu, trừ ra thờ Giáo tổ là để tỏ lòng kỷ niệm, còn không có thờ đến thần thánh nào, không phải nhờ đến sức âm phù mặc hộ bao giờ, vậy sao mà nước nào cũng thịnh vượng, dân nào cũng phú cường. Mà Á Đông này thờ thần thành kính là thế, sao thần lại chẳng phù hộ cho giàu mạnh bằng các nưổc đó? Một lẽ ấy đủ làm chứng cho sự ta tin nhảm.

    Thiết tưởng chỉ những miếu trung thần nghĩa sĩ và miếu những bậc đại anh hùng hào kiệt, thì mới đáng nên thờ. Mà thờ thì là để tỏ cái lòng kỷ niệm, chớ không phải thờ mà cầu phúc. Ta nên coi cái miếu đó như một tượng đồng của người Âu châu.

  • Mỗi tháng ngày sóc (mồng một) ngày vọng (hôm rằm), dân làng biện lễ oản chuốỉ, trầu rượu, đem tại miếu hoặc tại đình để lễ thần. Năm bảy người hoặc mươi, mười lăm bô lão trong làng mặc áo thụng vào lễ. Đoạn đem ra chia lấy một nửa làm cỗ kiến viên đế các lão hiện có tại đó uống rượu, còn một nửa chia mỗi người một miếng cho được quân chiêm thần huệ. Phần dẫu một miếng trầu, một miếng oản, một quả chuối, cũng phải phân minh. Nếu ngưòi đương cai lỡ ra làm thiếu của ai thì sinh ra hiềm khích, có khi đi kiện nhau cũng nên.

    Ngoài sự lễ Phúc thần, làng nào có thần miếu khác ở trong xã phận, cũng thường phải biện lễ oản gà, hoa quả đến lễ.

  • Mỗi năm về các tuần tiết như ba ngày chính đán, ngày Đoan dương, ngày Thượng nguyên, ngày Trùng thập v.v. và ngày hạ điền là ngày mới bắt đầu bước chân xuống ruộng, ngày thượng điền là ngày mới có gạo mới; ngày thuần húy, ngày thần đản là ngày sinh nhật hóa nhật của thần, các ngày ây đều có lễ, tùy tục làng và tùy năm phong khiếm, hoặc dùng bò lợn hoặc dùng gà xôi, nơi thì tế, nơi thì lễ. Lễ thượng điền, hạ điền về làng nào có ruộng mới tế lễ, mà nhiều làng chỉ tế lễ vào ngày hạ điền mà thôi. Lễ ấy có làng tế Phúc thần có làng chỉ lễ thần Tiên nông. Tục thường kén một ông bô lão hiền lành phúc hậu(mà hai vợ chồng còn sống toàn để làm lễ hạ điền. Nghĩa là ông ây phải xuống cấy vài nắm mạ trước, rồi từ đó trở đi cả xã mới cấy.

  • Mỗi năm trong tứ thời hoậc hai kỳ Xuân, Thu có một tuần đại tế gọi là tế kỳ phúc, nghĩa là cầu cho dân được bình an.

    Trước một ngày, làm lễ cáo yết, dắt trâu bò ra xem xét rồi đổ một chén rượu vào đầu trâu bò, gọi là tỉnh sinh. Tỉnh sinh rồi mới được giết thịt

    Trước khi tế phải rước văn. Dân làng đem long đình cờ quạt, tài tử đồng văn và cắt một người viên chức đội mũ, mặc áo thụng đến tại nhà người điển văn (người coi việc tả văn tế) mà rước bản văn về đình.

    Người tả văn cũng phải đội mũ mặc áo thụng đi theo sau long đình.

    Vào đến cửa đình, người tế chủ phải ra tại cửa ngoài mà nghênh tiếp bản văn đem vào an trí trong nội hương án, đâu đấy mới tế.

    Tế phải có một người làm tê’ chủ, kén người nào có chức tước ngôi thứ cao nhất trong làng mới được làm. Có làng thì lại kén người ngôi thứ cao mà vợ chồng song toàn, con trai con gái đề huề mới được làm tế chủ.

    Hai người hoặc bốn người bô lão làm bồi tế. Bồi tế đứng dưới người tế chủ và cứ trông mà lễ theo.

    Có hai người Đông xướng, Tây xướng đứng đôi bên cạnh cái hương án bày đài rượu để xướng lễ. Lại có hai người nội tán đứng đôi bên người tế chủ, để dẫn người tế chủ khi ra khi vào, và trợ xướng những khi tế chủ đã vào chiếu xong.

    Còn phải mươi mười hai người nữa đứng hai bên vào chấp sự, hoặc dâng hương, hoặc dâng rượu, hoặc chuyển chúc đọc chúc vân vân.

    Trước chỗ hương án trải bốn chiếu tế: thứ nhất là chiếu thần vị, thứ nhì là chiếu tế chủ thụ lộ, thứ ba là chiếu ngôi tế chủ, thứ tư là chiếu bồi tế.

    Lúc gần tế, tự người tế chủ cho chí các người viên chức vào chấp sự, ai nấy đội mũ, mặc áo thụng, đi hia chỉnh tề, đứng sắp hàng hai bên. Đồng văn (người đánh trông) rung xong ba hồi trống tế thì người Đông xướng, xưổng: khởi chinh cổ, thì có hai người chấp sự đi hai bên vào chỗ giá chiêng giá trống, một ngưòi đánh ba hồi chiêng, một người đánh ba hồi trông, rồi mỗi bên đánh thêm ba tiếng nữa, mối vái một vái mà lui ra.

    Kế đến xướng: nhạc sinh tựu vị, thì phường bắt âm tài tử kéo nhị, thổi sáo, gẩy đờn, gõ kiểng và bọn đồng văn đánh trống rầm rĩ lên một lúc mới thôi.

    Kế đến xướng: củ soát tế vật thì hai người mỗi người cầm một cây nến, một người phủng cái đế cắm một bó hương, dẫn người tế chủ vào mãi nội điện xem xét đồ lễ, có được thành kính hay thiếu thứ gì chăng. Đoạn rồi trở ra, khi vào thì vào phía hữu, khi ra thì ra phía tả, lúc nào ra vào cũng vậy.

    Kế đến xướng: ế mao huyết thì có một người cầm một cái đĩa đựng một ít tiết và mấy cái lông trâu bò đổ đi.

    Kế đến xưống: chấp sự giả các tư kỳ sự thì người nào việc gì phải chăm chú để giữ việc ấy.

    Kế đến xướng: tế chủ giữ chấp sự giả các nghệ quân tẩy sở thì người tế chủ và các ngưòi chấp sự đến cả chỗ cạnh hương án có để một chậu nưóc trên cái kỷ vào treo một cái khăn tay.

    Kế đến xướng: quán tẩy thì người tế chủ rửa tay vào chậu nước. Lại xướng thuế căn thì người tế chủ lấy cái khăn ấy lau tay.

    Kế đến xướng: Bồi tế viên tựu vị thì mấy người bồi tế bưốc vào đứng sắp hàng chiếu cuối cùng.

    Kế đến xưống: Tế chủ viên tựu vị thì người tế chủ bước vào chiếu vị mình.

    Kế đến xướng: thượng hương thì hai người chấp sự, một người phủng một cái lư hương, một người phủng hộp trầm đem đến trước mặt tế chủ, tế chủ lấy gói trầm bỏ vào cái lư rồi cầm lấy cái lư vái một vái, lại đưa cho ngươi chấp sự bưng vào đặt trên hương án gian giữa.

    Kế đến xướng: nghênh thần cúc cung bái thì tế chủ và mấy người bồi tế đều lạy thụp cả xu ông, ngươi Tây xướng, xướng một tiếng hưng thì đứng dậy. Lễ xong bôn lễ xướng bình thân thì đứng ngay mình cho nghiêm.

    Kế đến xướng: hành sơ hiên lễ thì là lúc dâng rượu lần đầu.

    Kế đến ngươi nội tán xướng: nghệ tửu tương sở, tư tôn giả cử mịch thì tế chủ đi ra chỗ án để đài rượu và ngươi chấp sự mở cái miếng vải phủ trên mâm đài ra, Xướng chước tửu thì rót rượu. Kế xướng: nghệ đại vương thần vị tiền thì hai người nội tán dẫn người tế chủ lên chiếu nhất. Xướng quy thì tế chủ và bồi tế đều quỳ cả xuống.

    Kế xướng: tiến tước thì một ngươi chấp sự dưng đài rượu đưa cho tế chủ vái một vái lại giao trả ngưòi chấp sự. Xướng hiến tửu thì các ngươi chấp sự dưng rượu đi hai bên đểu phải phủng cao đài rượu mà dưng vào nội điện.

    Xong rồi trở ra. Xướng: hưng, bình thân, phục vị. thì tế chủ, bồi tế cùng phục xuống rồi đứng dậy, tế chủ lui ra chiếu ngoài.,

    Kế Xướng: độc chúc thì có hai người chấp sự vào bàn trong phủng văn tê ra. Người nội tán xướng, nghệ độc chúc vị rồi lại dẫn tế chủ lên chiếu trên xướng đai quy thì tế chủ, bồi tế và hai ngươi phủng chúc đọc chúc đều quỳ cả xuổng. Xướng chuyên chúc thì người phủng bản văn đưa cho tế chủ cầm lấy vái một vái rồi đưa cho ngươi đọc chúc.

    Xướng: độc chúc lần nữa thì người đọc chúc tuyên đọc bài văn tế lên.

    Trong văn tế trước hết kể niên hiệu ngày tháng, kế nói đến tỉnh, phủ, huyện, xã, rồi liệt hết tên các tiên thứ chỉ, chức sắc, kỳ mục và các ngưòi lão hạng trong xã, kính dưng lễ vật cáo với thần vị nào, kê hết duệ hiệu và những mỹ tự của nhà vua phong cho thần.

    Đọc xong, tế chủ lạy hai lạy lui ra chiếu ngoài. Kế dưng hai tuần rượu nữa: tuần thứ hai gọi là á hiến tế, tuần thứ ba gọi là chung hiến tế. Cách xướng lễ cũng như tuần trước.

    Xong cả ba tuần rượu rồi thì xướng ẩm phúc, có hai người vào nội điện bưng một chén rượu và một khay trầu. Xướng nghệ ẩm phúc vị thì người tế chủ quay ra bước lên chiêu thứ nhì. Xướng quỵ thì tê chủ quỳ xuống, rồi hai người đưa chén rượu khay trầu cho ngươi tế chủ. Xướng ẩm phúc thì ngưòi tế chủ bưng lấy chén rượu vái một vái rồi uống hết ngay một hơi. Xướng thụ lộ thì tế chủ cầm khay trầu cũng vái rồi mới ăn một miếng. Nghĩa là thần ban phúc lộc cho thì phải uống ngay ăn ngay mới là kính trọng thần.

    Đoạn lễ hai lễ rồi đứng dậy lui,ra chiếu ngoài.

    Kế xướng: tạ lễ cúc cung bái thì tế chủ, bồi tế, cùng lạy tạ bốn lạy, xưống phần chúc thì người đọc chúc đem bản văn phóng hỏa đi.

    Đến xướng: lễ tất là việc tế xong hết.

    Trong khi tế, những lúc dâng rượu, lúc phần chúc, nhạc sinh đều phải cử nhạc. Đến lúc tế xong, dân làng theo thứ tự vào lễ, cũng có đánh trông gọi là trông lễ.

    Lễ xong đâu đấy thì đem làm cỗ ăn uống vui vẻ với nhau.

    Trong việc tế tự, có điển đốt hương là do tự Tây vực, đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách. Khi xưa tục Tàu tế Tôn miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộn vối mỡ mà đốt cho thơm, chưa có đốt hương. Đến đời vua Vũ Đế nhà Hán, sai tướng sang đánh nước Hồn Gia xứ Tây Vực (thuộc về vùng Ân Độ), vua nước ấy phải đầu hàng, dâng một thần tượng bằng vàng, đem về đặt trong cung Cam Toàn. Người nước Hồn Gia cũng tế thần ấy, không phải dùng đến dê bò, chỉ đốt hương lễ bái mà thôi. Từ đó Tàu mới có tục đốt hương.

    Nước ta có tục đốt hương chưa biết tự đâu nhưng ở Ngộ truyện có nói rằng: Trương Tân làm Thứ sử Giao Châu thường đốt hương ở nhà Cát Lập tinh xá để đọc đạo thư. Tục ta có lẽ khởi từ đó.

    Còn như hiến đồ tế vật, ngoài Bắc Kỳ ta chỉ hiến rượu chứ không hiến các món đồ ăn, vì ta hay để toàn sinh mới là thành kính, ở về Nam Kỳ thì món đồ ăn gì cũng có hiến. Trong khi hiến rượu, người ta đi một cách rẩt khoang thai nghiêm trang. Ớ Nam Kỳ khi hiến rượu hiến đồ ăn thường có hai người đóng tuồng, mặc đồ nhung trang cầm nến đi trước; kế đến mỗi bên ba bổn con hát, áo mũ rực rỡ, mỗi ả cầm vài nén hương, vừa đi vừa đọc câu chúc hỗ rồi mới đến các người hiến rượu hiến đồ ăn đi sau. Mà cách đi thì rất kỳ ngộ: người nào mắt cũng nhưng nhưng, nháo nháo, nghiêng đầu nghiêng cổ, chân bên nọ đá chân bên kia, làm cho ai lạ mắt cũng phải phì cười, mà họ thì cho thế mới là đi vào kiểu.

  • Làng nào mỗi năm cũng có một trà nhập tịch (vào đám), nhất là hay làm về tháng giêng, tháng hai. Hôm ấy là hôm bắt đầu vào tiệc hội hát, nhưng hội hát thì thỉnh thoảng năm nào phong đăng mới mở to, còn thường thường mỗi năm chiếu lệ làm sơ sài dăm bảy ngày cho chí mười ngày là cùng.

  • Trước một ngày nhập tịch, hoặc nửa đêm, hoặc buổi sáng, dùng lễ trầu rượu gà xôi cáo yết rồi dùng nước trong lau tắm thần vị, tắm xong lại lau phủ một lượt nưóc trầm hương, gọi là lễ mộc dục. Tắm rửa xong thì phong áo mũ đại trào hoặc bằng thực, hoặc bằng đồ giấy, đâu đấy tế một tuần, gọi là tế gia quan. Lễ vật thì tùy tục riêng từng làng hoặc dùng bò lợn, hoặc dùng gà xôi, có nơi chỉ dùng bảy quả trứng luộc mà thôi, nhưng thế nào cũng phải có trầu rượu.

    Tế lễ xong, các bô lão viên chức ngồi giải toạ, hạ đồ lễ làm cỗ ăn uốhg, rồi đem chậu nước trầm lau thần vị khi nãy, đồng dân theo thứ tự trên dưới mỗi ngưòi nhúng tay vào chậu nước lau lên ‘mặt một chút, gọi là quân chiêm thần huệ. Còn cái khăn vải đỏ dùng đê lau thần vị thì xé ra mà biếu viên chức và chia mỗi người một mảnh con cho đều. Mảnh ấy gọi là cái mụn đỏ, ai được phần đem về đeo cổ hoặc buộc cổ tay cho con thì con được mạnh khỏe, khước lắm.

Loading

Leave a Reply