Print Friendly, PDF & Email

Nhập thành ngữ vào ô ‘Tìm kiếm’ để tra ý nghĩa và tìm hiểu thêm về thành ngữ.

Thành ngữ - Tục ngữ Việt Nam

Latest | B C D G H K L M N P Q R S T V X
Showing 5 most recent names in this directory
Ông cả nằm trên sập vàng cả ăn cả mặc lại càng cả lo

    Ông cả nằm trên sập vàng cả ăn cả mặc lại càng cả lo

  • ý nói: càng ở địa vị cao, càng phải lo lắng nhiều, tuy rằng được ăn sang mặc đẹp, còn người ở đại vị thấp thì tuy ăn mặc kém nhưng không phải lo lắng nhiều.

Xập xí xập ngầu

    Xập xí xập ngầu

  • đây là một thành ngữ gốc hán, do hoa kiều ở quảng đông, phúc kiến dùng và đã nhập vào kho thành ngữ tiếng việt.
  • Hoa kiều phát âm là 'xập xí xập ngầu' nhưng nếu đọc theo âm hán việt là 'tập tứ thập ngũ' (mười bốn mười lăm). Nghĩa của thành ngữ này là: mười bốn nói là mười lăm, mười lăm nói là mười bốn, không minh bạch rõ ràng. Tiếng việt có từ 'ù xịa' cũng dùng để chỉ khái niệm này.
  • Từ ngữ gốc hán đọc theo âm quảng đông có khá nhiều.Ví dụ:
  1. - lục tàu sá (lục đậu sa = chè đậu xanh).
  2. - mì chính (vị tinh = một loại tinh chất dùng làm gia vị).
  3. - bát bảo lường xà (bát bảo lương trà = một loại trà chế bằng 8 vị thuốc quý).

Hình ảnh loài vật trong thành ngữ

Trong tiếng việt, nhân dân ta thường mượn hình tượng các con vật để tả vẻ xấu, đẹp, tính lành dữ của con người. Lối so sánh này giàu tính nghệ thuật và trí tưởng tượng là cho tiếng việt thêm giàu, thêm đẹp.
  1. Muốn thể hiện vẻ xấu đẹp về diện mạo, ta thường nói: mắt bồ câu, mày ngài mắt phượng, ti hí mắt lươn, trơ mắt éch, tròn xoe như mắt ốc nhồi, trắng dã như mắt lợn luộc, đỏ hoe như mắt cá chày, lông mày sâu róm, mũi sư tử, dô như trán khỉ, mồm cá ngão, mồm loa mép giải, nhăn như khỉ ăn gừng, mặt dài như mặt ngựa…
  2. Muốn thể hiện hình dáng, ta thường nói: gầy như xác ve, béo như lợn ỉ, thắt đáy lưng o­ng, mình cá trắm, gù lưng tôm, đùi dế, cổ cò, chân dài như chân sếu, to như chân voi, tay dài như vượn, đen như quạ, béo như cun cút…
  3. Muốn thể hiện tính nết, phong cách, ta thường nói: nhanh như sóc, chậm như rùa, yếu như sên, khỏe như trâu, mạnh như hổ, hôi như cũ, hôi như chuột chù, dốt như bò, chữ như gà bới, lủi như cuốc, ngu như lợn, học như cuốc kêu mùa hè, thẳng như ruột ngựa, dai như đỉa đói, ngang như cua…
  4. Hình ảnh loài vật còn được dùng để thể hiện hoàn cảnh đời sống như:Chuột sa chĩnh gạo, tu hú đẻ nhờ, sẵn tổ như tu hú, dã tràng xe cát, tò vò nuôi nhện…

Xấu như ma lem

    Xấu như ma lem

  • ở trung quốc ngày xưa có 4 người đẹp và 5 người xấu được ghi trong sử sách và truyền vào nước ta.
  • Bốn người đẹp là: tây thi (đòi xuân thu), chiêu quân (đời hán), điêu thuyền (đời tam quốc), dương quý phi (đời đường).
  • Năm người xấu nhất nước là: mô mẫu (vợ hoàng đế trung hoa cổ đại)
  • Chung vô diệm (vợ vua tề tuyên vương thời chiến quốc).
  • Mạnh quang (vợ danh sĩ lương hồng đời hậu hán)
  • Nguyên nữ (vợ danh sĩ hứa doãn đời đông tấn).
  • Hoàng thi (vợ khổng minh gia cát lượng).
  • Trong số này, chung vô diệm là xấu nhất. Bà chính họ là chung li, tên là xuân, người đất vô diệm, tỉnh sơn đông (chính bà này được người đời gọi xấu như ma lem).sách xưa ghi lại hình dáng bà như sau: tóc đỏ, mắt xanh, môi dày, miệng rông, bụng phệ, lưng gù, da sạm.
  • Tại sao tề tuyên vương lại lấy bà này làm chính phi ? bà rất tài trí tinh thông văn võ. Năm 40 tuổi, bà xin gặp mặt vua. Chỉ trong một buổi đối thoại, tề tuyên vương đã bị thuyết phục. Khi nhà vua hỏi về việc nước bà thưa 'nước tề bị nước tấn uy hiếp ở phía tây, nước sở uy hiếp ở phía nam, đó là nguy cơ thứ nhất. Nhà vua làm nhọc sức dân, hao tiền tốn của, đó là nguy cơ thứ hai/ trong triều hiếm người hiền, trọng kẻ nịnh, đó là nguy cơ thứ ba. đấng quân vương ham mê tửu sắc, không sửa sang chính trị trong nước, đó là nguy cơ thứ tư'.
  • Trước những lời thẳng thắn, cương trực của chung li, tề tuyên vương đã bừng tỉnh và nói: 'nếu không có lời nói của nhà ngươi thì quả nhân không bao giờ biết được lỗi lầm của mình'. Vua liền lập chung vô diện làm chính phi để giúp mình trông coi việc nước.
  • Câu chuyện này nhập vào nước ta cũng có ý sâu xa, vì bà này tuy nhung nhan xấu nhưng công, ngôn, hạnh lại nổi bật.

Xắn tay quai cồng

    Xắn tay quai cồng

  • Cồng là một loại chiêng nhỏ dùng để làm hiệu lệnh. Quai cồng thường là loại dây thừng to và bề. Khi đánh, một tay xách quai, một tay dùng để gõ vào mặt cồng. Người phụ nữ xưa mặc váy dài. Khi làm việc, họ phải buộc một dây thừng vào bụng và giắt cặp váy vào dây cho váy cao lên khoảng đầu gối để đỡ vướng.
  • Thành ngữ này dùng để chỉ những người phụ nữ tháo vát, lam lũ. Cũng có khi dùng chỉ những người phụ nữ đanh đá.
  • Nhà thơ nguyễn khuyến trong câu đối khóc vợ cũng có hình ảnh này: 'nhớ bà xưa, xắn tay quai cồng, chân đăm đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc'.

Vung tay quá chán

    Vung tay quá chán

  • Vung là động từ chỉ hoạt động nhanh, mạnh khi ném một vật gì. Vung còn đi với các từ vung vãi, vung phí.
  • Quá chỉ ý vượt quá hơn mức bình thường như thái quá, quá trớn. Thành ngữ này nói lên sự vung phí tiền của thái quá so với mức cần thiết và có nhiều đặc điểm chung với thành ngữ 'ném tiền qua cửa sổ'. Song thành ngữ vung tay quá chán có ý nghĩa và cách dùng rộng hơn nghĩa là không chỉ nói về chi tiêu hoang phí mà còn nói về bất kì sự chi dùng hoang phí nào.

hat-giong

(Theo Từ điển Thành ngữ & Tục ngữ Việt Nam của GS. Nguyễn Lân – Nxb Văn hóa Thông tin tái bản 2010, có hiệu chỉnh và bổ sung)