Nhập thành ngữ vào ô ‘Tìm kiếm’ để tra ý nghĩa và tìm hiểu thêm về thành ngữ.
***
Thành ngữ - Tục ngữ Việt Nam
There are currently 150 names in this directory beginning with the letter V.
Vạ bởi miệng ra, bệnh qua miệng vào
- Phải cẩn thận khi ăn uống, nói năng; ăn uống bừa bãi sinh ra trăm thứ bệnh, nói năng không gìn giữ là nguồn gốc sinh ra những chuyện chẳng lành. Cũng thường nói: “bệnh ngoài miệng chui vào, vạ trong miệng trào ra'.
Vạ tay không bằng vạ miệng
- Tai hoạ do hành động thiếu thận trọng không đáng sợ bằng tai vạ do không biết giữ mồm giữ miệng.
Vạ vịt chưa qua, vạ gà đã đến
- Tai vạ, rủi ro đến dồn dập; chưa thoát khỏi rủi ro này thì rủi ro khác lại đến.
Vạch áo cho người xem lưng
- Bày cái dở cái xấu của mình hay của phe mình một cách vô ý thức cho người ta thấy.
Vạch áo cho người xem lưng
- Tự mình để lộ cái không tốt trong nội bộ, gia đình để người ngoài chê cười.
Vái cả hai tay
- Quỵ luỵ, van xin, khẩn cầu hết sức; hoặc một mực từ chối, xin chịu không dám nhận, không dám làm.
Vai sắt chân đồng
- Có sức mạnh phi thường, dũng mãnh và bền bỉ, đủ khả năng làm những việc hết sức nặng nhọc khó khăn. Cũng thường nói: “mình đồng da sắt'.
Vạn sự khởi đầu nan
- Mọi công việc khi bắt đầu đều gian nan, khó khăn; phải kiên nhẫn vượt qua thì mới thành công.
Văn võ kiêm toàn
- Văn võ đều giỏi. Cũng thường nói: “văn giở văn, võ giở võ' nghĩa là yêu cầu mặt nào cũng có thể đáp ứng được một cách giỏi giang.
Vàng bạc có giá, tôm cá theo buổi chợ
- Những thứ quý hiếm thì trong hoàn cảnh nào cũng giữ được giá trị của mình, còn những vật tầm thường nhỏ mọn phải phụ thuộc hoàn toàn vào thời thế.
Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm
- Vắng người có quyền trong nhà, kẻ dưới vượt quyền, lên mặt ức hiếp bạn bè
Vắng chúa nhà, gà mọc đuôi tôm
- Không có người đứng đầu quản lý, cầm chịch thì người dưới quá tự do thoải mái nên dễ làm qua loa, làm bậy, dẫn đến mọi việc đều lộn xộn, lung tung.
Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp
- đàn ông là người gánh vác hầu hết những việc lớn, việc trọng đại trong gia đình, còn đàn bà là người chăm lo quán xuyến việc ăn ở, bếp núc.
Vàng đỏ nhọ lòng son
- Vàng bạc, tiền của bao giờ cũng kích thích lòng tham của con người, khiến người ta không giữ được lương tâm trong sáng.
Vàng mây thì gió, đỏ mây thì mưa
- Kinh nghiệm dự đoán thời tiết. Trên trời mây có màu vàng thì trời chuyển gió, mây có màu đỏ thì sắp có mưa.
Vắng như chùa bà đanh
- Chùa Bà Đanh là tên gọi Nôm của chùa Châu Lâm. Chùa này được cất lên cùng với viện Châu Lâm vào thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng Thụy Chương, Hà Nội. Vì để tránh húy miếu vua Thiệu Trị nên sau này Thụy Chương phải đổi thành Thụy Khuê. Vào thời đó, viện Châu Lâm được dùng làm chỗ ở cho những người Chiêm Thành được đưa về sau các cuộc chiến tranh, còn chùa Châu Lâm là nơi dành cho họ cúng lễ (vì hầu hết những người này đều theo đạo Phật).
- Sau khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội, họ đã chiếm khu vực đất này để lập trường Trung học bảo hộ (1907) - nay là trụ sở của trường trung học Chu Văn An, vì thế chùa Châu Lâm phải dời về phía Tây Nam, ở cuối làng và đổi sang tên mới là chùa Phúc Lâm.
- Dấu tích của chùa Phúc Lâm hiện vẫn còn giữ lại được tấm bia ghi rõ: Bà Đanh tự (chùa Bà Đanh). Theo tục truyền, Bà Đanh là một người đàn bà đã có công dựng lên chùa này, vì thế mà ngôi chùa mang tên bà. Từ khi viện Châu Lâm bị bãi bỏ, số người đến lễ bái chùa này ngày một ít đi. Chính vì thế mà không khí ngôi chùa này ngày càng trở nên vắng vẻ. Trong bài "Tụng Tây Hồ phú" của Nguyễn Huy Lượng có ghi lại cảnh vắng của chùa này:
- - Dấu bố cái rêu in nền phủ - Cảnh Bà Đanh hóa khép cửa chùa.
- Cảnh vắng vẻ, thiếu người đến lễ bái của chùa Bà Đanh dần dần đã trở thành một hình ảnh để so sánh với bất cứ một cảnh vắng vẻ nàọ "Vắng như chùa Bà Đanh" là một sự vắng vẻ yên tĩnh gợi nên vẻ lạnh lẽo, cô quạnh, thiếu hơi ấm của con người. Ca dao Hà Nội có câu: Còn duyên kẻ đón người đưa Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh.
Vàng sa xuống giếng khó tìm, người sa lời nói như chim sổ lồng
- Bị mất vàng bạc tuy khó khăn nhưng vẫn có khi tìm lại được, còn lời nói hớ hênh đã trót nói ra thì không bao giờ chuộc lại được nữa.
Vàng thau lẫn lộn
- Tình trạng thật giả, tốt xấu lẫn lộn, không được phân biệt rõ ràng theo đúng giá trị của từng thứ loại.
Vàng thì thử lửa, thử than; chim khôn thử tiếng, người ngoan thử lời
- Tất cả mọi vật trên đời đều có cách thử để biết tốt xấu; qua lời ăn tiếng nói có thể biết được con người khôn ngoan.
Vàng thiệt chẳng sợ chi lửa
- Con người cũng như đồ vật, phải trải qua thử thách mới đánh giá đúng phẩm chất, năng lực.
Vang trời dậy đất
- Sự kiện lớn xảy ra có tiếng vang và ảnh hưởng sâu rộng đến cả dân tộc hoặc thế giới.
Vào mồng ba, ra mồng bảy, rẫy mồng tám
- Nói về những cuộc hôn nhân quá ngắn ngủi, vợ chồng ăn ở với nhau một sớm một chiều đã bỏ nhau.
Vặt đầu cá, vá đầu tôm
- Lấy chỗ này bù vào chỗ kia để khắc phục thiếu thốn, khó khăn; vất vả chạy vạy, xoay xở đủ cách.
Vật đến keo, trèo đến mái
- Làm việc gì thì phải quyết làm cho tới nơi tới chốn, không được bỏ dở giữa chừng.
Vật đổi sao dời
- Biến động lớn và lâu dài làm thay đổi cả những thứ ổn định, bền vững nhất trong thiên nhiên.
Vắt mũi không đủ đút miệng
- Nghèo túng kiệt quệ, phải tìm mọi cách để sống cho qua ngày mà vẫn không đủ ăn.
Vấy máu ăn phần
- Không làm gì, chỉ ở ngoài cuộc nhưng khi công việc xong xuôi lại tỏ ra mình cũng có công.
Vay nên nợ, đỡ nên ơn
- Không nên vay mượn, phiền luỵ ai, nhưng có điều kiện thì nên giúp đỡ người khác; vay mượn thường dễ dẫn đến phiền hà đủ bề, tốt nhất là có thì cho luôn.
Vay nên ơn, trả nên nghĩa
- Vay mượn của người nào thì phải trả sòng phẳng cho người đó để giữ được ơn nghĩa lâu bền. Còn có nghĩa khác nữa là: đã vay thì phải trả, nhưng dù trả hết nợ rồi vẫn phải mang ơn người đã cho mình vay mượn.
Vay ơn nhất thời, đòi oán tam đại
- Tâm lý của kẻ vô ơn, khi vay được thì cám ơn rối rít, nhưng khi người ta đòi lại thì oán hận nặng nề.
Vẽ hùm thêm cánh
- Tạo điều kiện cho kẻ mạnh ngày càng mạnh thêm, gây ra nhiều nguy hiểm nặng nề. Ví như con hổ vốn đã nguy hiểm giờ lại được thêm đôi cánh thì nguy hiểm gây ra càng lớn gấp bội.
Vẽ rắn thêm chân
- Hiểu biết nông cạn nhưng lại cố tỏ vẻ hiểu biết hơn người; vẽ vời, thêm thắt những điều không có trong thực tế; bịa đặt, dựng chuyện.
Vén tay áo sô đốt nhà tang giấy
- Áo sô là áo của người có đại tang (tang bố mẹ), nhà tang giấy là nhà làm bằng giấy có khung bằng nứa để đậy trên quan tài khi làm lễ tang. Khi ra đến huyệt, sau khi chôn cất xong, người ta thường đốt nhà tang giấy. Vén tay áo sô thì không khó gì vì áp sô bằng vải mỏng và rộng tay. đốt nhà tang giấy cũng rất dễ. Câu này ý nói làm một việc rấ dễ dàng chóng xong. (thời xưa, chỉ nhà giàu mới làm nhà tang giấy. Các nhà thường dân dùng chung nhà tang bằng gỗ của phe giáp).
Vén tay áo sô đốt nhà tang giấy
Vén tay áo sô, đốt nhà táng giấy
- Tiêu xài, phung phí những thứ không phải của mình một cách không thương xót.
Vênh váo như khố rợ phải lấm
- Câu này thường bị nói nhầm thành 'vênh váo như bố vợ phải đấm'.
- Ngày trước, nhiều người nghèo đến mức không có vải để đóng khố, phải dùng vỏ một loại cây, ngâm nước rồi đập thành mảng cho mềm để đóng khố (chăn sui khố rợ). đóng khố có yêu cầu là kín hai bên nhưng khố rợ khi lấm bùn thì không mêm fnhuw vải mà cứng lại, tạo nên sự vênh váo.
- Trong một cuộc tọa đàm ở viện khoa học giáo dục (1965), nhà văn nguyễn công hoan cũng tán thành cách giải thích này nhưng ông còn nói thêm câu 'vênh váo như bố vợ cậu ấm'. Cậu ấm là con quan, người được thông gia với quan cũng dễ lên mặt, dễ vênh váo với thiên hạ lắm chứ. Chúng tôi xin nêu để bạn đọc tham khảo thêm.
Vênh váo như khố rợ phải lấm
Vị cây dây neo
- Vì thân thiết hoặc có quan hệ gần gũi với người này mà trở nên quen biết, thân cận, gắn bó với người kia.
Vì sông nên phải luỵ đò
- Vì gặp khó khăn, ngang trái nên mới phải nhờ vả cầu cạnh hoặc phải nhẫn nhục chịu đựng; nếu cuộc sống yên ả, phẳng lặng thì chẳng ai phải nhờ cậy ai.
Vị thần ai vị cây đa
- Vì người này mà phải nể sợ người có liên quan, ví như vì kính trọng thần thánh mà kính trọng cả cây đa là chỗ thần thánh trú ngụ.
Vị thần phải nể cây đa
- Do kính sợ người trên, người có quyền lực mà phải nể nang kẻ dưới có liên quan.
Vị tình, vị nghĩa, chẳng ai vị đĩa xôi đầy
- Người ta đến với nhau vào dịp lễ tết hay giỗ chạp là vì tình nghĩa chứ không phải vì miếng ăn.
Việc người thì sáng, việc mình thì quáng
- Sốt sắng lo toan, tham gia hết mình đến việc của thiên hạ, còn việc nhà mình thì không màng đến; nhìn nhận công việc của người khác thì sáng suốt, còn đối với công việc của bản thân thì lại mờ mịt, lơ mơ.
Việc người thì sáng, việc mình thì quáng
- Việc của người, mình không trách nhiệm thì giải quyết dễ dàng, việc của mình thì khó giải quyết êm đẹp. lỗi lầm của người, mình đứng ngoài trông thấy rất rõ, lỗi của mình thì mù mờ, giấu nhẹm
Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng
- Sốt sắng gánh vác việc thiên hạ, còn việc nhà mình thì bỏ bê, vô trách nhiệm.
Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng
- Việc của mình, không bị ai thúc giục, bỏ qua không lo đến, việc của người khác thì tỏ ra sốt sắng giúp đỡ
Việc to chớ lo tốn
- Làm việc to lớn thì phải chi phí nhiều là điều tất nhiên, không nên dè dặt chi li.
Việc trâu trâu lo, việc bò bò liệu
- Chủ động lo toan và chịu trách nhiệm về cuộc sống, việc làm của chính mình; không trông chờ, ỷ lại vào người khác. Cũng thường nói: “ai có thân người ấy lo, ai có bò người ấy giữ'.
Vợ chồng cùng một tuổi, ngồi duỗi ra mà ăn
- Theo quan niệm xưa, vợ chồng cùng tuổi lấy nhau làm ăn sẽ gặp nhiều may mắn.
Vợ chồng son đẻ một con thành bốn
- Thường những cặp vợ chồng mới sinh con lần đầu chưa có kinh nghiệm nuôi con nên cần phải có người trông nom, giúp đỡ, thế là thành bốn người.
Vô công rồi nghề
- Kẻ lêu lổng, lười nhác, không chịu lao động; kẻ hay tham gia vào những việc không liên quan gì đến mình.
Vợ dại không hại bằng đũa vênh
- Người vợ dại dột, ngu đần gây nhiều phiền toái, bất lợi cho chồng con. đũa vênh thì khó gắp thức ăn
Vơ đũa cả nắm
- Không khách quan, nhìn nhận, đánh giá, đối xử đồng loạt như nhau mà không phân biệt hay dở, tốt xấu.
Vợ hiền hoà, nhà hướng nam
- Theo quan niệm về phong thuỷ, làm nhà hướng nam thì mát mẻ và rất tốt, giống như người đàn ông lấy được người vợ hiền hoà thì gia đình được êm ấm, hạnh phúc.
Vô hoạn nạn, bất anh hùng
- Không trải qua hoạn nạn, khó khăn thử thách thì không thể trở thành người từng trải.
Vợ lẽ con thêm
- Cảnh người đàn bà lấy chồng làm lẽ bị coi rẻ, hoặc người đàn ông đã có vợ con đề huề lại còn có con riêng với người khác; sự phức tạp, phiền hà vì nhiều vợ, đông con.
Vô phúc đáo tụng đình
- Chỉ những kẻ vô phúc, ngu dại mới đi kiện cáo, kêu xin nơi cửa quan, triều đình
Vỏ quít dày, móng tay nhọn
- Dầu khôn ngoan, lanh lợi, xảo trá đến đâu, cũng có kẻ đồng tài, hoặc cao hơn chống lại.
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn
- Kẻ ghê gớm đến mấy cũng có đối thủ cao tay hơn trừng trị. Cũng còn nói: “vỏ dừa gặp vỏ gáo'.
Voi cày, chim nhặt
- Người lớn thì làm việc lớn, người nhỏ thì làm việc nhỏ cho phù hợp với sức vóc, khả năng của mình.
Voi chẳng đẻ chứ đẻ thì to
- Người có tài năng, tiềm lực không làm thì thôi, nhưng đã làm thì phải đạt thành quả lớn.
Voi chết vì ngà, chim chết vì lông
- Voi có cặp ngà quý, chim có bộ lông đẹp nên dễ bị săn bắt để lấy những thứ quý đó. Chớ khoe khoang, để lộ những cái hơn người mà dễ bị tai hoạ.
Voi không nài như trai không vợ
- (nài: người trông nom, điều khiển voi hay còn gọi là người quản tượng).voi không có người cai quản thì tự do tung hoành không thể điều khiển được, giống như người con trai không có vợ thì tha hồ lêu lổng, chơi bời.
Vồng chiều mưa sáng, ráng chiều mưa hôm
- Kinh nghiệm dự đoán thời tiết. Cầu vồng hiện vào buồi chiều thì buổi sáng hôm sau sẽ có mưa; buổi chiều có ráng trắng hoặc đỏ hồng thì trưa hôm sau trời sẽ mưa.
Vồng rạp mưa rào, vồng cao gió táp
- Phía chân trời có cầu vồng ở dưới thấp thì sắp có mưa rào; cầu vồng ở trên cao thì sắp có bão lớn.
Vòng vo Tam Quốc
- Không dám nói thẳng vấn đề; Không đi thẳng vào trọng tâm hay đề cập trực tiếp vào vấn đề.
- Hàm ý những lời nói loanh quanh, dài dòng, làm mất thời gian, gây khó chịu.
- Hàm ý những lời nói loanh quanh, dài dòng, làm mất thời gian, gây khó chịu.
Vụ mùa cấy cao, vụ chiêm cấy trũng
- Kinh nghiệm làm ruộng, vụ mùa cấy vào tháng sáu thời tiết nóng nực nhưng lại hay có bão lũ nên phải cấy ở ruộng cao thì lúa không bị ngập úng; ngược lại vụ chiêm cấy vào tháng chạp đến tháng giêng là lúc thời tiết hanh khô, rét mướt nên phải cấy ở ruộng trũng thì mới giữ được nước.
Vừa ăn cướp, vừa la làng
- Chính bản thân làm bậy nhưng lại to tiếng để lấp liếm, làm ra vẻ mình là người bị hại.
Vừa giàu, vừa sang, mở mang mày mặt
- Giàu có, sang trọng thì được hưởng sung sướng, mọi người kính nể, được mở mặt với đời.
Vừa làm phúc, vừa phải tội
- Giúp đỡ người khác, làm điều tốt lành nhưng lại bị người ta hiểu lầm, mang vạ vào thân.
Vừa mắt ta, ra mắt người
- Phải làm ăn cẩn thận, cư xử đúng đắn, bản thân mình cảm thấy hài lòng thì người khác mới vừa ý.
Vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội
- Xem hát là xem tuồng, chèo khiến người ta thấy vui thích; xem bơi thì nhanh hết và tẻ nhạt; xem hội thường rất đông, phải chen lấn, xô đẩy lẫn nhau nên rất mệt.
Vụng hát chê đình tranh
- Bản thân mình yếu kém, không có năng lực nhưng không chịu thừa nhận mà đổ cho điều kiện khách quan.
Vung tay quá chán
- Vung là động từ chỉ hoạt động nhanh, mạnh khi ném một vật gì. Vung còn đi với các từ vung vãi, vung phí.
- Quá chỉ ý vượt quá hơn mức bình thường như thái quá, quá trớn. Thành ngữ này nói lên sự vung phí tiền của thái quá so với mức cần thiết và có nhiều đặc điểm chung với thành ngữ 'ném tiền qua cửa sổ'. Song thành ngữ vung tay quá chán có ý nghĩa và cách dùng rộng hơn nghĩa là không chỉ nói về chi tiêu hoang phí mà còn nói về bất kì sự chi dùng hoang phí nào.
Vung tay quá chán
Vụng tay, hay con mắt
- Bản thân vụng về, không có tài cán gì nhưng lại hay xét nét, chê bai người khác.
Vuốt mặt không nể mũi
- Thẳng tay phê phán hoặc làm điều tệ hại với người nào đó mà không nể nang họ còn liên quan thân thiết với người khác có thế lực, địa vị cần phải kính nể.
(Theo Từ điển Thành ngữ & Tục ngữ Việt Nam của GS. Nguyễn Lân – Nxb Văn hóa Thông tin tái bản 2010, có hiệu chỉnh và bổ sung; Từ điển Thành ngữ và Tục Ngữ Việt Nam của tác giả Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào…)